- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Tuấn A phạm tội TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HS-ST Ngày 31/5/2022 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG - TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diện;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Bình và bà Tẩn Thị ThA
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 31/5/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2022/TLST-HS ngày 27/4/2022, đối với bị cáo:
Chu Tuấn A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 19 tháng 5 năm 2001 tại xã Việt Xuân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi ĐKHKTT: Thôn PL, xã VX, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi ở: thôn HL, xã LH, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giáo dục phổ thông: 7/12. Con ông: Chu Văn T - năm sinh 1978; Con bà: Dương Thị Thu H- năm sinh 1976, hiện cư trú tại: thôn HL, xã LH, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền sự: Không.
Tiền án: Bị can có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích (Ngày 29/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử tuyên phạt 01 năm 09 tháng về tội Trộm cắp tài sản).
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. (Ngày 04/8/2016, bị Công an huyện Vĩnh Tường xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức: Cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Tại Bản án số 57/2017/HS-ST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Bản án số 03/2018/HS-ST ngày 25/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc phạt 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt của Bản án số 57/2017/HS-ST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc buộc Chu Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung là 15 tháng tù. Tại Bản án số 08/2018/HS-ST, ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 57/2017/HS-ST, ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc buộc Chu Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 02 tháng tù. Ngày 26/10/2019 Chu Tuấn A chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tại bản án số 86/2020/HS-ST, ngày 29/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc phạt 01 năm 09 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 23/01/2022 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/3/2022, tạm giam kể từ ngày 22/3/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, có mặt.
- Bị hại: Anh Lý Văn L; Sinh năm 2000; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi cư trú : Thôn NT, xã DC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng :
+ Anh Ly Seo S, Anh Vàng Seo P; cùng địa chỉ : Thôn LSC, xã DC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai (vắng mặt).
+ A Ma P1; địa chỉ : Thôn CL, xã DC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, vắng mặt.
+ A Ma Seo T1; địa chỉ: Thôn SCA, xã DC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 16 giờ ngày 13/3/2022 khi đang ngồi trên xe khách đi đến thôn NT, xã DC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, Chu Tuấn A quan sát nhìn thấy có 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Airblade màu đỏ đen biển kiểm soát 24B2 - 092.80 đang dựng ở lề đường phía bên trái, chìa khóa vẫn cắm trên ổ khóa điện, không có ai trông coi, Chu Tuấn A đã nảy sinh ý định trộm cắp xe máy. Chu Tuấn A yêu cầu lái xe khách dừng lại cách vị trí xe máy khoảng 50 mét rồi xuống xe tiến lại và ngồi lên xe máy trên, gạt chân chống, nổ máy rồi điều khiển xe chạy theo hướng đi huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Đi được một đoạn thì thấy có người truy đuổi theo, Chu Tuấn A tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy được khoảng hơn 02 km thì bị bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra Chu Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/TBKL-HĐĐG, ngày 21/3/2022 của Hội đồng định giá huyện Mường Khương kết luận: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Air Blade màu đen đỏ biển kiểm soát 24B2-092.80, xe cũ, đã qua sử dụng có giá trị: 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
* Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Airblade màu đen đỏ biển kiểm soát 24B2-092.80. Số khung 6302FZ611475, số máy JF63B1130455. 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số: 045526 mang tên Giàng Seo Ca, số khung 6302FZ611475, số máy JF63B1130455. Quá trình điều tra đã xác định được chiếc xe máy đó là tài sản thuộc sở hữu của anh Lý Văn L nên đã trả lại cho anh L theo biên bản ngày 13/4/2022.
* Về dân sự: Bị hại là anh Lý Văn L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự.
Tại Cáo trạng số: 02/CT-VKS, ngày 26/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương truy tố bị cáo Chu Tuấn A về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chu Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Chu Tuấn A mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra đề nghị tuyên án phí, quyền kháng cáo đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị hại là anh Lý văn L vắng mặt. Tại đơn đề nghị đề ngày 27/5/2022, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Chu Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương đã nêu ở trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, ngày 13/3/2022 Chu Tuấn A đã trộm cắp của anh Lý Văn L chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Air Blade màu đen đỏ, biển kiểm soát 24B2 -092.80 đã qua sử dụng, có giá trị theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện Mường Khương là 25.000.000 đồng, mục đích mang bán lấy tiền tiêu sài cho cá nhân. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu sài nên bị cáo đã trộm cắp tài sản của anh Lý Văn L là chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Air Blade màu đen đỏ, biển kiểm soát 24B2 -092.80 đã qua sử dụng mục đích bán lấy tiền tiêu sài. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc xe máy trả lại cho người bị hại; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông ngoại là ông Dương Hùng V được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là tái phạm.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2016 bị Công an huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính, phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Tại Bản án số 57/2017/HS-ST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Bản án số 03/2018/HS-ST ngày 25/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc phạt 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt của Bản án số 57/2017/HS-ST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 tháng tù. Tại Bản án số 08/2018/HS-ST, ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 57/2017/HS-ST, ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 02 tháng tù. Ngày 26/10/2019 Chu Tuấn A chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tại bản án số 86/2020/HS-ST, ngày 29/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc phạt 01 năm 09 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 23/01/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Sau khi trở về địa phương, bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành công dân có ích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra qua điều tra xác minh, ngày 11/3/2022, bị cáo đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc khởi tố vụ án về tội Cướp giật tài sản. Vì vậy đối với bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Chu Tuấn A là đối tượng không có nghề nghiệp và không có tài sản, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng: Xét thấy việc trả lại tài sản cho bị hại của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Khương là phù hợp nên Hội đồng xét xử không giải quyết lại.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên: Xét thấy tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Chu Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự phạt bị cáo Chu Tuấn A 02 (Hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 13/3/2022.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Chu Tuấn A phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lào Cai (1) -VKSND tỉnh Lào Cai (1) - VKSND huyện MK (1); - Bị cáo (1); Bị hại (1) - CQĐT CA huyện Mường Khương (1) ; - THADS huyện Mường Khương(1) - Sở tư pháp (1); L - Lưu hồ sơ (1); - Lưu Văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Hồng Diện |