vanban.org

Bản án 07/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 23/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2021. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HOÀNG VĂN HOAN - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HS-ST
Ngày: 23 - 02 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Văn Đê;

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huê - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2022/TLST - HS ngày 26 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Hoàng Văn H, sinh năm 1998 tại xã H.M, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm Bắc Hải, xã H.M, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1960 và bà Trần Thị B, sinh năm 1962, trú tại xóm Bắc Hải, xã H.M, huyện Hải Hậu; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; “có mặt”.

- Bị hại: Chị Viên Thị N, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố số 4, phường P.L, quận H.Đ, thành phố Hà Nội; “vắng mặt”;

- Người làm chứng:

1. Chị Dương Thị D, “vắng mặt”;

2. Anh Phạm Bá H, “vắng mặt”;

3. Anh Trần Văn H, “vắng mặt”;

4. Anh Phạm Văn T, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Hoàng Văn H nảy sinh ý định sử dụng mạng Facebook để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. H chơi thân với anh Phạm Văn H, trú tại xóm 33, xã H.M, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định nên biết các mối quan hệ, người thân của anh H và biết anh H đang đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản ít khi dùng mạng Facebook. Ngày 09/8/2021, H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 của mình để truy cập vào tài khoản Facebook tên “Hinh Phạm” của anh H để tải các hình ảnh của anh H về máy, sau đó tạo một tài khoản Facebook tên “Pham Hinh”, sử dụng hình ảnh anh H làm ảnh đại diện và kết bạn với tài khoản Facebook tên “Ngan quang Viên” của chị Viên Thị N, trú tại Tổ dân phố số 4, phường P.L, quận H.Đ, thành phố Hà Nội là bạn của anh H. Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 10/8/2021, H mạo danh anh H nhắn tin cho chị N nói mình đang ở nước Nhật Bản, có em trai đang bị cách ly do dịch bệnh Covid 19 cần tiền và nhờ chị N cho mượn số tiền 2.000.000đồng để chuyển trước cho em trai rồi sẽ chuyển khoản trả chị N sau. Tin tưởng là anh H nhắn tin nên chị N đồng ý. H đã gửi số tài khoản 3207205341441 Ngân hàng Agribank chủ tài khoản là Phạm Văn T, sinh năm 1998, ở xóm 37, xã H.M để chị N chuyển tiền. Chị N đưa tiền và nhờ bạn là chị Dương Thị D, sinh năm 1991, ở xóm T. P, xã H.K, huyện S.S, thành phố Hà Nội chuyển số tiền 2.000.000đồng từ số tài khoản 19024499433015 tại Ngân hàng Techcombank của chị D sang số tài khoản của T. Sau khi nhận được tiền, H nhờ Tùng đi rút số tiền 2.000.000 đồng rồi H ăn tiêu hết.

Khoảng 10 giờ ngày 11/8/2021, H sử dụng điện thoại đăng nhập vào tài khoản facebook “Pham Hinh”, tiếp tục mạo danh anh Phạm Văn H nhắn tin cho chị N nói cần tiền gấp cho anh trai mượn để nhập hàng gỗ mà chưa thể gửi về được và hỏi vay chị N số tiền 7.000.000 đồng. Chị N đồng ý. H đã gửi số tài khoản 48010000696851 Ngân hàng BIDV chủ tài khoản là Phạm Bá H, sinh năm 2000, trú tại xóm Bắc Hải, xã H.M, huyện Hải Hậu để chị N chuyển khoản. Chị N tiếp tục nhờ chị Dung chuyển số tiền 7.000.000đ từ tài khoản của chị Dung sang số tài khoản 48010000696851 của Huỳnh. Sau khi nhận được tiền, H bảo Huỳnh chuyển số tiền 7.000.000 đồng sang số tài khoản 103872655074 Ngân hàng Viettinbank của Trần Văn H, sinh năm 1998, trú tại xóm 35, xã H.M, huyện Hải Hậu rồi nhờ anh Huy đi rút toàn bộ số tiền trên đưa cho H và H chi tiêu cá nhân hết.

Vẫn bằng thủ đoạn mạo danh anh Phạm Văn H, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/8/2021, Hoàng Văn H nhắn tin cho anh Phạm Văn C, trú tại xóm 33, xã H.M là anh trai anh H hỏi vay số tiền 5.000.000 đồng và chị Phạm Thị S, sinh năm 2000, trú tại xóm 33, xã H.M là em gái anh H hỏi vay số tiền 800.000đồng nhưng anh Chung, chị Sim biết H mạo danh anh H để lừa đảo nên không chuyển tiền cho H. Anh Chung, chị Sim trình báo Công an xã H.M. Xét thấy hành vi trên của Hoàng Văn H không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên Công an huyện Hải Hậu xử lý hành chính là phù hợp.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Iphone 5, vỏ màu xám mà H thực hiện hành vi phạm tội và đã trả lại số tiền 9.000.000đ cho bị hại là chị Viên Thị N. Sau khi nhận được tiền, chị N không có đề nghị gì thêm về phần dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSHH ngày 25/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố hành vi của Hoàng Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Hoàng Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người có thu nhập không ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận đã phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng, tại phiên tòa bị cáo cũng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 10/8/2021 và ngày 11/8/2021, Hoàng Văn H dùng thủ đoạn gian dối qua mạng Facebook, mạo danh là anh Phạm Văn H đã chiếm đoạt của chị Viên Thị N, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố số 4, phường P.L, quận H.Đ, thành phố Hà Nội số tiền 9.000.000đồng rồi chi tiêu cá nhân hết. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo là có căn cứ.

Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị Viên Thị N, bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo bất chấp pháp luật, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi; bị cáo đã trả lại số tiền chiếm đoạt cho bị hại là đã tự nguyện khắc phục hậu quả; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn H, thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, không có công việc ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt số tiền 9.000.000 đồng của chị Viên Thị N nhưng đã trả lại cho chị N. Sau khi nhận lại đủ số tiền trên, chị N không đề nghị gì về phần dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, vỏ màu xám, Imei 013404008966557 đã qua sử dụng mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội là của bị cáo nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với Phạm Văn T, Phạm Bá H và Trần Văn H đã cho bị cáo H mượn số tài khoản Ngân hàng để chị N chuyển tiền nhưng không biết bị cáo H dùng vào việc phạm tội, cũng không được bị cáo hứa hẹn gì nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý những người này là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2021.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, vỏ màu xám, số Imei 013404008966557.

(Vật chứng trên được miêu tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 08/02/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).

3. Về án phí: Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ