- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Phi C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Phi C phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HS-ST Ngày 17-02-2022 |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Nở.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hà Thị Hương.
2. Bà Cao Thị Hồng Châu.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2022, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HS ngày 28/01/2022 đối với bị cáo:
Võ Phi C, sinh năm 1989 tại tỉnh H.
Nơi cư trú: Thôn 1x, xã E, huyện C, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn M, sinh năm: 196x và bà Dương Thị L, sinh năm: 196x; bị cáo có vợ là Lê Thị Th, sinh năm: 199x (đã ly hôn) có 01 con sinh năm: 201x; tiền án: 01 tiền án, ngày 20/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh H xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 26/2019/HS-ST; tiền sự: 02 tiền sự, ngày 29/12/2020 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 02/11/2021 bị Tòa án nhân dân huyện C ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị bắt tạm giam từ ngày 09/11/2021 cho đến nay – có mặt.
- Bị hại:
1. Ông Trần Hồng M, sinh năm 197x. (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 1x, xã E, huyện C, tỉnh Đ.
2. Ông Trần Bảo T, sinh năm 198x. (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 1x, xã E, huyện C, tỉnh Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Công B, sinh năm 197x. (có mặt)
Địa chỉ: Thôn x, xã E, huyện C, tỉnh Đ.
2. Ông Y L, sinh năm 198x. (vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn J, xã E, huyện C, tỉnh Đ.
3. Bà Hồ Thị Th, sinh năm 198x. (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn x, xã E, huyện H, tỉnh Đ.
4. Chị Mộc Thị Kim Ph, sinh năm 199x. (vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số 7x/1x, Ấp x, xã Lộ 2x, huyện Th, tỉnh Đ.
5. Anh Mộc Hiếu H, sinh năm 199x.(vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số 7x/1x, Ấp x, xã Lộ 2x, huyện Th, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 07/11/2021, Võ Phi C điều khiển xe mô tô gắn biển số: 47D1-267.xx mang theo 02 bao xác rắn đến hái trộm cà phê tại rẫy của ông Trần Hồng M thuộc tiểu khu 54x Lâm trường Buôn J, xã E, huyện C. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi hái được 02 bao xác rắn cà phê quả tươi thì C điều khiển xe mô tô chở 02 bao cà phê vừa trộm cắp được đến cất giấu tại rừng thực nghiệm xã E, huyện C. Sau đó, C điều khiển xe mô tô quay lại rẫy cà phê của ông M tiếp tục hái trộm cà phê. Khi hái được 4,2kg cà phê thì bị gia đình ông M phát hiện, truy đuổi nên C đã bỏ lại xe mô tô gắn biển số: 47D1-267.xx và chạy bộ băng qua Trạm bảo vệ rừng số x, Lâm trường Buôn J, xã E, huyện C. Lúc này C quan sát thấy xe mô tô, biển số: 47H1- 078.xx, nhãn hiệu SHMOTO của ông Trần Bảo T đang dựng ở trạm, có s n chìa khóa trên xe nhưng không có người trông coi nên C đã lấy trộm xe mô tô trên rồi điều khiển chạy đến rừng thực nghiệm xã E chở 02 bao cà phê tươi do C trộm cắp được của ông M đem cất giấu trước đó, mang đến bán cho ông Lê Công B là chủ Đại lý cà phê H, cân được trọng lượng là 93,3kg, được số tiền là: 630.000 đồng. Số tiền trên C đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 16 giờ ngày 08/11/2021, khi C đang điều khiển xe mô tô biển số: 47H1- 078.xx đi đến địa phận thôn x, xã E, huyện C thì bị phát hiện đưa về trụ sở để làm việc. Đồng thời Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, kiểm tra xe mô tô gắn biển số 47D1 – 267.xx phát hiện thu giữ 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có ch a chất rắn màu trắng nghi là ma túy. Qua đấu tranh C khai nhận: trước đó vào sáng ngày 07/11/2021, C đi tới đường Ph, thành phố B, tỉnh Đ mua 01 tép ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng của một người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) về để sử dụng, C đã sử dụng ½ tép còn lại ½ tép ma túy C gói lại trong gói giấy bạc màu vàng, cất giấu vào trong cốp xe mô tô gắn biển số 47D1 – 267.xx để tiếp tục sử dụng thì bị phát hiện xử lý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐGTS ngày 09/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cư M’gar kết luận: 97,5kg quả cà phê, trong đó có quả chín và quả xanh có giá: 731.250 đồng; 01 xe mô tô biển số 47H1 – 078.xx, số máy P52FMH0271xx, số khung HOUMAXY271xx, giá trị còn lại: 2.350.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 1097/GĐMT-PC09 ngày 16/11/2021 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,0422gam, loại Heroine.
Về vật ch ng của vụ án: 97,5kg cà phê quả tươi; 01 chiếc bạt màu nâu kích thước (03x04)m; 01 bao xác rắn màu hồng; 01 xe mô tô gắn biển số 47D1 – 267.xx nhãn hiệu ESPERO DETECH, số máy VDEJ0139FMB0264xx, số khung: RPEWCBIPEDA0264xx; 01 xe mô tô biển số: 47H1 – 078.xx, nhãn hiệu SHMOTO, số máy: P52FMH0271xx, số khung: H0UMAXY271xx; 0,0422 gam ma túy, loại Heroine (đã trích mẫu giám định hết, hoàn lại toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu).
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 24/01/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar truy tố bị cáo Võ Phi C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Phi C, đồng thời đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ về trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Phi C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Võ Phi C từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Phi C từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của 02 tội. Xử phạt bị cáo Võ Phi C từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 09/11/2021.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Hồng M, ông Trần Bảo T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Công B không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Xử lý vật ch ng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar đã trả lại 97,5kg cà phê quả tươi, trả lại 01 tấm bạt màu nâu kích thước (3x4)m, 01 bao xác rắn màu hồng cho ông Trần Hồng M là chủ sở hữu hợp pháp; 01 xe mô tô biển số 47H1 – 078.xx cho ông Trần Bảo T. Đối với xe mô tô nhãn hiệu ESPERO DETECH, số máy VDEJ0139FMB0264xx, số khung: RPEWCBIPEDA0264xx có biển kiểm soát là 60AH – 014.xx (đã bị mất) là tài sản của chị Mộc Thị Kim Ph đề nghị trả lại cho chị Ph là chủ sở hữu hợp pháp. Đối với chiếc biển số 47D1 – 267.xx không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy. Truy thu sung công qu nhà nước của bị cáo số tiền 630.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với các tài liệu, ch ng c khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 07/11/2021, tại tiểu khu 547 lâm trường buôn J, xã E, huyện C, tỉnh Đ, bị cáo Võ Phi C (đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích) đã có hành vi trộm cắp 97,5kg cà phê quả tươi của ông Trần Hồng M, trị giá 731.250 đồng và trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu SHMOTO, biển số 47H1 – 078.xx của ông Trần Bảo T, trị giá 2.350.000 đồng. Xác định tổng trị giá tài sản mà bị cáo Võ Phi C đã trộm cắp là: 3.081.250 đồng. Ngoài ra trong ngày 07/11/2021, bị cáo Võ Phi C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,0422gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện xử lý.
Hành vi của bị cáo Võ Phi C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Tại điểm a, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị x phạt vi phạm hành chính v hành vi quy định tại Đi u này hoặc đã bị kết án v tội này hoặc một trong các tội quy định tại các đi u 24 , 250, 251, 252 của ộ luật này, chưa được x a án tích mà còn vi phạm.”
Xét tính chất, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm phát sinh các tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực hành vi, có đủ khả năng để nhận th c chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác và tàng trữ trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Về nhân thân: Bị cáo Võ Phi C có 01 tiền án, ngày 20/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh H xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 26/2019/HS-ST, chưa được xóa án tích. 02 tiền sự, ngày 29/12/2020 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 02/11/2021 bị Tòa án nhân dân huyện C ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Phi C phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với tội “Trộm cắp tài sản”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với tội “Trộm cắp tài sản” và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Với tính chất, m c độ của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Trong vụ án này, đối với ông Lê Công B khi mua lại số cà phê từ bị cáo Võ Phi C, ông B không biết đó là tài sản do bị cáo C trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Võ Phi C, quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng này, khi nào làm rõ s xử lý sau.
Đối với anh Mộc Hiếu H và chị Mộc Thị Kim Ph, khi cho bị cáo C mượn xe mô tô nhãn hiệu ESPERO DETECH, biển kiểm soát 60AH – 014.xx, anh H và chị Ph không biết bị cáo Cường sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Hồng M, ông Trần Bảo T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Công B không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập để giải quyết.
Về xử lý vật ch ng: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar đã trả lại 97,5kg cà phê quả tươi, 01 tấm bạt màu nâu kích thước (3x4)m, 01 bao xác rắn màu hồng cho ông Trần Hồng M là chủ sở hữu hợp pháp và 01 xe mô tô biển số 47H1 – 078.xx cho ông Trần Bảo T.
Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO DETECH, số máy VDEJ0139FMB0264xx, số khung: RPEWCBIPEDA0264xx cho chị Mộc Thị Kim Ph là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với chiếc biển số 47D1 – 267.xx không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong phong bì có chữ ký ghi tên Trần Lê Minh Hải, Lê Khắc Nguyên và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk.
Đối với số tiền 630.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của bị cáo cần truy thu sung qu Nhà nước.
Xét quan điểm của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Phi C. Đề nghị về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, m c hình phạt và xử lý vật ch ng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Phi C phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Võ Phi C 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Võ Phi C 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự.
Tổng hợp hình phạt của hai tội, bị cáo Võ Phi C phải chấp hành hình phạt chung là 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 09/11/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar đã trả lại 97,5kg cà phê quả tươi, 01 tấm bạt màu nâu kích thước (3x4)m, 01 bao xác rắn màu hồng cho ông Trần Hồng M là chủ sở hữu hợp pháp và 01 xe mô tô biển số 47H1 – 078.xx cho ông Trần Bảo T.
Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO DETECH, số máy VDEJ0139FMB0264xx, số khung: RPEWCBIPEDA0264xx cho chị Mộc Thị Kim Ph là chủ sở hữu hợp pháp.
Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc biển số 47D1 – 267.xx.
Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong phong bì có chữ ký ghi tên Trần Lê Minh Hải, Lê Khắc Nguyên và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk.
(C đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/01/2022 giữa Cơ quan cảnh sát đi u tra – Công an huyện Cư M’gar và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư M’gar).
Truy thu sung qu Nhà nước số tiền 630.000 đồng của bị cáo Võ Phi C.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Võ Phi C phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Vụ giám đốc kiểm tra I - TANDTC; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Cư M’gar; - Công an huyện Cư M’gar; - THA phạt tù; - Chi cục THADS huyện Cư M’gar; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phùng Thị Nở |