- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thu L đối với bị đơn ông Võ Minh P về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” như sau:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HNGĐ-ST Ngày 14-3-2022 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đăng Thành;
2. Ông Trần Văn Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 95/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2021 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23/02/2022 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu L, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ 2, ấp Tân Hội, xã Thạnh Hội, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Minh P, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ 2, ấp Tân Hội, xã Thạnh Hội, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01/4/2021, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Thu L trình bày:
Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thu L và ông Võ Minh P tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân vào năm 2005, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 19/7/2005. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 02 con chung, gồm: Võ Lê Huỳnh N, sinh ngày 03/12/2005 và Võ Lê Huỳnh Nh, sinh ngày 31/01/2009.
Hai vợ chồng đã ly thân hơn hai năm. Nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, lối sống, các bên không có sự đồng cảm. Gia đình hai bên nhiều lần khuyên bảo nhưng đều không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống cả hai. Đến nay, bà L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông P.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung là Võ Lê Huỳnh N và Võ Lê Huỳnh Nh hiện nay đang sống chung với ông P, được chăm sóc tốt về vật chất và tinh thần, được ăn học đầy đủ. Do đó, khi ly hôn, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết giao 02 con chung cho ông P nuôi dưỡng. Bà L cấp dưỡng cho mỗi con 1.000.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, ông P có đơn xin giải quyết vắng mặt và có bản tự khai trình bày: Thống nhất về quan hệ hôn nhân, con chung như lời trình bày của bà L. Hiện nay, vợ chồng đã ly thân khoảng 03 năm, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Do đó, ông P đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L. Cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Phong đồng ý ly hôn với bà L.
Về con chung: Ông P yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con Võ Lê Huỳnh N, sinh ngày 03/12/2005 và Võ Lê Huỳnh Nh, sinh ngày 31/01/2009.
Về cấp dưỡng nuôi con: Yêu cầu bà L cấp dưỡng cho mỗi con 1.000.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi theo đơn khởi kiện của bà L.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản xác minh ngày 02/11/20 tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã T: Bà Lê Thị Thu L và ông Võ Minh P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 2, ấp T, xã H, thị xã T. Về mâu thuẫn gia đình giữa ông P và bà L địa phương không nắm rõ nguyên nhân do ông P và bà L không trình báo địa phương.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã T thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, đưa vụ án ra xét xử đúng hạn luật định. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng đúng quy định.
Về nội dung: Bà Lê Thị Thu L và ông Võ Minh P tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Bà L xác định vợ chồng không còn sống cùng nhau, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do vậy, bà L yêu cầu ly hôn ông P là có căn cứ. Về con chung: Bà L yêu cầu giao con cho ông P nuôi dưỡng, ông Phong có văn bản trình bày đồng ý nuôi con chung, đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con theo đơn của bà L; các con có nguyện vọng ở với cha nên đề nghị giao con cho ông P nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông P vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu L và ông Võ Minh P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã , thị xã T, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 19/7/2005 là hôn nhân hợp pháp. Bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn. Bà L và ông P đều xác nhận mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được và vợ chồng đã ly thân hơn 02 năm. Ông P có ý kiến đồng ý ly hôn với bà L. Do vậy, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông P đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên việc bà L yêu cầu ly hôn với ông Phong là có căn cứ, phù hợp với Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông P có 02 con chung là Võ Lê Huỳnh N, sinh ngày 03/12/2005 và Võ Lê Huỳnh Nh, sinh ngày 31/01/2009. Hiện nay, hai con đang sống chung với ông P, được chăm sóc, giáo dục tốt, đảm bảo các điều kiện vật chất và tinh thần. Các con có văn bản thể hiện nguyện vọng muốn tiếp tục sống với cha khi cha mẹ ly hôn. Bà L yêu cầu Tòa án giao con chung cho ông P nuôi dưỡng. Ông P có văn bản trình bày ý kiến yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Do đó, yêu cầu của bà L là có căn cứ chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L đề nghị cấp dưỡng cho mỗi con 1.000.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi. Ông P đồng ý với bà L. Đây là ý chí tự nguyện của bà L, được ông P chấp nhận và phù hợp với quy định pháp luật nên Tòa án chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
Về án phí : Bà Lê Thị Thu L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thu L đối với bị đơn ông Võ Minh P về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” như sau:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu L được ly hôn với ông Võ Minh P.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Lê Huỳnh N, sinh ngày 03/12/2005 và Võ Lê Huỳnh Nh, sinh ngày 31/01/2009 cho ông Võ Minh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Bà Lê Thị Thu L và ông Võ Minh P đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại, thăm nom mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Thu L cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 1.000.000 đồng/tháng đến khi các con đủ 18 tuổi.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí: Bà Lê Thị Thu L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0052382 ngày 23/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương. Bà Loan còn phải nộp 300.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thị xã T (01); - Chi cục THADS thị xã T (01); - Các đương sự (02); - Lưu: VT, HS (02). CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Quỳnh Nga Nguyễn Thị Quỳnh Nga |