vanban.org

Bản án 07/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Thanh H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ch về việc: “ly hôn”.

Về hôn nhân: Ông Cao Thanh H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ch. Về con chung: Các đương sự không có con chung nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thanh Hùng & Nguyễn Thị CHinh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Thanh H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ch về việc: “ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-01-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sô.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm;

2. Bà Nguyễn Kim Lý.

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 291/2021/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2021/QĐXXST–HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2021/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Cao Thanh H, sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú tại: Tổ 1, khu phố BĐ, phường HL, thị xã BC, tỉnh BD; chỗ ở: Số nhà 120 đường Nguyễn Đức Cảnh, khu phố 3, phường HA, thành phố TDM, tỉnh BD. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1978; hộ khẩu thường trú tại: Tổ 1, khu phố Bến Đồn, phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện đề ngày 25/5/2021 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Cao Thanh H trình bày:

Ông H và bà Chính đều là người đã từng trải qua một đời vợ, đời chồng. Sau khi gặp nhau, quen biết và tìm hiểu thì ông H và bà Chính tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương vào ngày 29/8/2019.

Sau khi kết hôn thì cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm vợ chồng nhiều lần hòa giải nhưng không thể hàn gắn và dung hòa được với nhau. Đến đầu năm 2021 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Mặc dù đã hết tình cảm với nhau, ông H đề cập đến vấn đề ly hôn thì bà Chính không phản đối và kêu ông H làm thủ tục ly hôn một bên”.

Ông H đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ch.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát phát biểu ý kiến: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát xác định quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn là phù hợp và nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận toàn bộ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Các đương sự tranh chấp ly hôn và bị đơn bà Nguyễn Thị Ch có địa chỉ cư trú tại phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp và “Tranh chấp về việc ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại các Điều 28, 35, 36 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn ông Cao Thanh H có Đơn yêu cầu xét xử vắng; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về chứng cứ: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng đồng ý sử dụng chứng cứ theo biên bản phiên họp công khai việc giao nộp và tiếp cận chứng cứ ngày 28/10/2021. Đối với bị đơn vắng mặt không có lý do, Tòa án đã gửi kết quả phiên họp cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến thắc mắc, không cung cấp thêm chứng cứ và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ. Do đó, Tòa án sử dụng chứng cứ được công khai theo biên bản phiên họp ngày 28/10/2021 làm cơ sở giải quyết vụ án.

Về nội dung:

Nhận thấy: Ông Cao Thanh H và bà Nguyễn Thị Ch tự nguyện tiến tới hôn nhân, đăng ký và được Ủy ban nhân dân phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận kết hôn số 62, ngày 29/8/2019, đây là hôn nhân hợp pháp. Ông H trình bày thì sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, bất đồng quan điểm và thường xảy ra mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng phải sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay nên yêu cầu được ly hôn với bà Chính.

Quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thị Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia giải quyết vụ án nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xem như bà Chính từ bỏ quyền tự bảo vệ đối với quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Xét thấy, Ông H và bà Chính kết hôn từ tháng 8/2019 đến đầu năm 2021 thì vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Ông H trình bày, sau khi kết hôn thì vợ chồng sống không hạnh phúc vì phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng nhiều lần hòa giải để hàn gắn và dung hòa nhưng không đạt được kết quả. Để làm rõ lời trình bày của ông H, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bà Chính tham gia hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng bà Chính không tham gia, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu của ông H. Điều này thể hiện thái độ thờ ơ, không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân và hạnh phúc gia đình của bà Chính.

Như vậy, Hôn nhân của ông H và bà Chính đã không còn tồn tại trên thực tế và mâu thuẫn vợ chồng đã không thể hòa giải và hàn gắn, do đó, cần chấp nhận cho ông H được ly hôn với bà Chính để sớm ổn định cuộc sống giữa hai bên theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông H trình bày không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Từ những phân tích như trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.

Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương là phù hợp.

Về án phí: Nguyên đơn ông Cao Thanh H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36 và Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 147, Điều 266 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Thanh H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ch về việc: “ly hôn”.

1. Về hôn nhân: Ông Cao Thanh H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ch.

2. Về con chung: Các đương sự không có con chung nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Cao Thanh H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Ông Cao Thanh H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0057135 ngày 03/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ