vanban.org

Bản án 07/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim L được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

Về quyền nuôi con chung: Chị Lê Thị Kim L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 04/9/2012. Anh T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Kim L ly hôn Nguyễn Minh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim L được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN THẠNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06-5-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Minh Tấn

2. Bà Trần Thị Năm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Kim – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim L, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện C, tỉnh L. (Có đơn xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1989; Địa chỉ thường trú: Ấp L, xã P, huyện C, tỉnh L; Nơi ở hiện tại: Đang chấp hành án tại phân trại K2, Trại giam T, ấp H, xã T, huyện T, tỉnh L. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/01/2022 và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn Lê Thị Kim L trình bày tóm tắt như sau: Chị và anh Nguyễn Minh T kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân dân xã P, huyện C, tỉnh L cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/8/2011, số 148/2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, hai bên thường xuyên gây gổ, cãi vả nhau, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T. Khi ly hôn, chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 04/9/2012, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ý kiến của anh T về việc yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung thì chị không đồng ý. Bởi vì, anh T hiện đang là bị án, đang chấp hành hình phạt tù tại phân trại K2, Trại giam T, ấp H, xã T, huyện T, tỉnh L, nên không đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Bị đơn Nguyễn Minh T vắng mặt nhưng có gởi bản tự khai ngày 11/4/2022 thể hiện ý kiến được tóm tắt như sau: Anh đồng ý ly hôn với chị L. Khi ly hôn, anh yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 04/9/2012, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 21/4/2022, cháu Nguyễn Thị Tuyết N thể hiện nguyện vọng được sống chung với mẹ là chị Lê Thị Kim L trong trường hợp cho mẹ ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do bị đơn là anh Nguyễn Minh T đang chấp hành hình phạt tù tại phân trại K2, Trại giam T, ấp H, xã T, huyện T, tỉnh L và có đơn xin vắng mặt tại tất cả các phiên họp, phiên hòa giải của Tòa án, nên Tòa án chỉ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tổ chức hòa giải. Sau đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn Lê Thị Kim L và bị đơn Nguyễn Minh T vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân giữa các bên, thấy rằng: Chị Lê Thị Kim L và anh Nguyễn Minh T kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân dân xã P, huyện C, tỉnh L cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 148/2011, ngày 25/8/2011, nên quan hệ hôn nhân của chị L và anh T là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Xét yêu cầu ly hôn của chị L thấy rằng: Chị L khởi kiện xin ly hôn với anh T và anh T có ý kiến đồng ý ly hôn với chị L, đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh T.

Về quyền nuôi con chung: Chị L và anh T đều có yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 04/9/2012. Hội đồng xét xử thấy rằng: Xét về điều kiện nuôi con của chị L và anh T thì chị L có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung, trong khi anh T đang chấp hành án phạt tù nên không đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ngoài ra, cháu N cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ là chị Lê Thị Kim L trong trường hợp cho mẹ ly hôn. Do đó, thực hiện quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho chị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Tuyết N.

Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này đương sự có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn Lê Thị Kim L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn. Bị đơn Nguyễn Minh T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86 và Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim L được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

2. Về quyền nuôi con chung: Chị Lê Thị Kim L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 04/9/2012.

3. Anh T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T theo quy định của pháp luật. Chị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con của anh T.

4. Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì chị L, anh T, người thân thích của cháu N, Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn. Chuyển số tiền 300.000đ tạm ứng án phí chị L đã nộp theo các biên lai thu số 0004147 ngày 20/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh sang thi hành án phí, nên chị L không phải nộp tiếp.

6. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ