vanban.org

Bản án 07/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Lê Mỹ L được ly hôn ông Nguyễn Chí H.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật Duy, sinh ngày 20 tháng 5 năm 2014 (nam) cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Mỹ Lil - Nguyễn Chí Hướng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Lê Mỹ L được ly hôn ông Nguyễn Chí H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18-02-2022
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Trang Phượng;

Ông Nguyễn Quốc Thống.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Gây là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 18 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Mỹ L, sinh năm 1986 (xin vắng).

Bị đơn: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện N, tỉnh C .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện (về việc xin ly hôn) và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Mỹ L trình bày:

- Về hôn nhân: Năm 2014 bà L có tìm hiểu và đi đến hôn nhân với ông Nguyễn Chí H. Đây là hôn nhân lần thứ hai của bà L, hôn nhân có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh C.

Sau khi thành hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nhưng đã được cha mẹ hàn gắn hôn nhân. Đến tháng 7 năm 2021 vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn do ông H không chí thú làm ăn mà mê game, ông H thường xuyên chưởi bới và đánh đập bà L trước đám đông. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2021 đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng cũng không khắc phục được mâu thuẫn.

Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân tiếp tục duy trì không hạnh phúc nên bà L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Chí H.

- Về nuôi con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Nhật Duy, sinh ngày 20 tháng 5 năm 2014 (nam). Hiện Nhật Duy đang sống chung với ông H, khi ly hôn bà L đồng ý giao Nhật Duy cho ông H nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

- Về con riêng của bà L: Gồm cháu Huỳnh Như Quỳnh, sinh ngày 24 tháng 4 năm 2005 (nữ) và Huỳnh Mạnh Quỳnh, sinh ngày 11 tháng 12 năm 2007 (nam). Con riêng đang sống với bà L, khi ly hôn bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và công nợ: Bà L tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Chí H:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà ông H không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông H vẫn không tham gia.

Tại phiên tòa:

Bà Lê Mỹ L, ông Nguyễn Chí H vắng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Mỹ L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Chí H, bà L đồng ý giao con chung cho ông H nuôi dưỡng nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; ông H cư trú tại ấp Nhà H, xã T, huyện N, tỉnh C nên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh C.

Bà Lê Mỹ L có đơn xin vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà L là phù hợp.

Đối với ông Nguyễn Chí H đã được Tòa án thông báo hợp lệ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử sơ thẩm lần 01, quyết định hoãn phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông H.

. Về nội dung:

- Về hôn nhân: Năm 2014 bà L và ông H kết hôn trên tinh thần tự nguyện. Hôn nhân có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, có lập thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh C vào ngày 16 tháng 06 năm 2014 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53. Vì vậy quan hệ hôn nhân của bà Lê Mỹ L và ông Nguyễn Chí H được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Bà L yêu cầu ly hôn với ông H vì vợ chồng thường bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H không tôn trọng bà L, thường xuyên đánh đập và xúc phạm nhân phẩm bà L. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2021 cho đến nay. Trong thời gian ly thân bà L, ông H cũng không khắc phục được mâu thuẫn.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn hôn nhân giữa bà L, ông H đã đến mức trầm trọng, bởi lẽ Tòa án có tổ chức các phiên hòa giải để hàn gắn hôn nhân nhưng ông H vẫn không tham gia, chứng tỏ ông H không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Mỹ L đối với ông Nguyễn Chí H theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về nuôi con chung: Có 01 người con tên Nguyễn Nhật Duy, sinh ngày 20 tháng 5 năm 2014 (nam). Hiện Nhật Duy đang sống chung với ông H, khi ly hôn bà L đồng ý giao Nhật Duy cho ông H nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay Nhật Duy có cuộc sống ổn định bên ông H và tại Biên bản ghi lời trình bày của cháu Duy, cháu Duy cũng có nguyện vọng được sống cùng ông H khi cha mẹ ly hôn. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu Duy, tránh làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của cháu nên Hội đồng xét xử giao cháu Duy cho ông H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về con riêng của bà L: Gồm cháu Huỳnh Như Quỳnh, sinh ngày 24 tháng 4 năm 2005 (nữ) và Huỳnh Mạnh Quỳnh, sinh ngày 11 tháng 12 năm 2007 (nam). Con riêng đang sống với bà L, khi ly hôn bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp với Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự“Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.

- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch bà Lê Mỹ L phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà L được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 220, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Cho bà Lê Mỹ L được ly hôn ông Nguyễn Chí H.

- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật Duy, sinh ngày 20 tháng 5 năm 2014 (nam) cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về con riêng của bà L: Gồm cháu Huỳnh Như Quỳnh, sinh ngày 24 tháng 4 năm 2005 (nữ) và Huỳnh Mạnh Quỳnh, sinh ngày 11 tháng 12 năm 2007 (nam). Bà L không yêu cầu nên không xem xét.

- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí:

Bà Lê Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0015273 ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ