vanban.org

Bản án 07/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: chị Vi Thị Q được ly hôn vớ i anh Nguyễn Mạnh C. 2. Về con chung: Giao cho chị Vi Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Trung T, sinh ngày 24/01/2010 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Mạnh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Q ly hôn anh C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HNGĐ-ST
Ngày 11-01-2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Ninh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Vũ

Ông Hoàng Văn Khiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Lục Yên, tỉnh Yên Bá i tham gia

phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 193/2021/TLST– HNGĐ ngày 27/10/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2021/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2021/QĐST-HNGĐ ngày 30/12/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Vi Thị Q – sinh năm 1988

Đi ̣a chi: Tổ 13, thị trấn Y, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (vắng mă ̣̉

t, có lý do)

2. Bị đơn: anh Nguyễn Mạnh Cường – sinh năm 1987

Đi ̣a chi: Tổ 13, thị trấn Y, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (vắng mă ̣̉

t, không lý do)

NỘI DUNG VỤ Á N:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2021, các lời khai tiếp theo nguyên đơn Vi Thị Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Mạnh C kết hôn vào ngày 26/12/2008 trên cơ sở tự nguyê ̣n có đăng ký kết hôn ta ̣i Ủ y ban nhân dân (UBND) xã M, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C không quan tâm đến vợ con, thường xuyên đi chơi và có hành vi cờ bạc. Hiện tại vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Đến nay xác định tình cảm không còn, chị Quý đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: chị và anh C có 01 con chung Nguyễn Trung T, sinh ngày 24/01/2010. Sau khi ly hôn, chị có nguyê ̣n vo ̣ng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai bị đơn Nguyễn Mạnh C nhất trí về thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn với nội dung như chị Quý trình bày. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2014 có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng cãi nhau, bản thân anh chơi bời và hai vợ chồng sống ly thân. Nay chị Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, xác định tình cảm vẫn còn anh C không đồng ý ly hôn.

Về con chung: anh và chị Q có 01 con chung như chị Q trình bày. Sau khi ly hôn, anh có nguyê ̣n vo ̣ng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản và công nợ chung: anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Lục Yên đã triệu tập hơp lệ bi ̣ đơn Nguyễn Mạnh C tham gia phiên hòa giải, nhưng anh C vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Do đó vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Dân sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Lu ̣c Yên phát biểu ý kiến cho rằng trong quá trình tố tụng, Tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử về nội dung vụ án như sau:

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Về quan hệ hôn nhân giải quyết cho chị Q được ly hôn với anh C, về con chung giao cháu Nguyễn Trung T cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt, không lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Vi Thị Q và anh Nguyễn Mạnh C kết hôn vào ngày 26/12/2008 có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Việc kết hôn này tuân thủ đúng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Xé t yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: qua lờ i khai của các đương sự quá trinh̀ chung sống thực tế vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng làm việc xa, không thông cảm cho nhau, anh C hay bỏ nhà đi chơi. Mâu thuẫn kéo dài và không thể khắc phục được, vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau. Lời khai của các đương sự là phù hợp với nội dung biên bản xác minh của Tòa án tại Tổ 13, thị trấn Y, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Theo nội dung đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn, có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: chị Q và anh C có 01 con chung tên Nguyễn Trung T, sinh ngày 24/01/2010, nay anh chi ̣ đều có nguyê ̣n vo ̣ng được nuôi con. Theo tài liệu các bên đương sự cung cấp và kết quả xác minh của Tòa án: Chị Q và anh C đều có nơi cư trú ổn định. Mứ c thu nhâ ̣p bình quân hàng tháng hàng tháng anh C khoảng 5.000.000đ/tháng và chị Q khoảng 14.700.000đ/tháng. Tại đơn đề nghị cháu T có nguyện vọng ở cùng mẹ do mẹ có điều kiện thuận lợi đảm bảo mọi mặt về nơi ở và học tập.

Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao con chung cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp. Chị Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: chị Vi Thị Q phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền khá ng cá o: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56; 57; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi vá ̀ lê ̣ phi Tó ̀a án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Vi Thị Q được ly hôn vớ i anh Nguyễn Mạnh C. 2. Về con chung: Giao cho chị Vi Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Trung T, sinh ngày 24/01/2010 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Mạnh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: chị Vi Thị Q phải chi ̣u 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2021/0002064 ngày 27/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Chị Q đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền khá ng cá o: án xử công khai sơ, thẩm các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ