vanban.org

Bản án 07/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Đinh Thị Y được ly hôn với anh Đinh Văn H. Về con chung: giao cháu Đinh Nhã U, sinh ngày 19/4/2018 cho chị Đinh Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 09/2022 đến khi cháu U trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Đinh Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại thăm nom con chung k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đinh Thị Y ly hôn anh Đinh Văn H"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23- 9 - 2022
V/v : Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vương Thị Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Bình.

ông Phạm Văn Kha.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 18/2022/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 7 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXX-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Đinh Thị Y, sinh năm 1997.

Nơi cư trú: thôn 1, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: anh Đinh Văn H, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: thôn 1, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 22/6/2022 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Đinh Thị Y trình bày: chị và anh Đinh Văn H đăng ký kết hôn ngày 26/7/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện N, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, chị và anh Đinh Văn H sinh sống hạnh phúc đến tháng 05 năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị và anh Đinh Văn H đã nhiều lần tự hòa giải nhưng không đạt kết quả, nên đã ly thân từ tháng 5 năm 2021 đến nay. Những mâu thuẫn trên đã thật sự sâu sắc, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Văn H.

Về con chung: chị và anh Đinh Văn H có 01 con chung là cháu Đinh Nhã U, sinh ngày 19/4/2018. Hiện nay cháu U đang sinh sống cùng chị tại thôn 1, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Để đảm bảo cuộc sống của cháu U không bị ảnh hưởng, thay đổi, chị đề nghị Tòa án giao cháu U cho chị tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành. Chị không yêu cầu anh Đinh Văn H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị và anh Đinh Văn H không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí Tòa án: chị Đinh Thị Y xin chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Đinh Văn H. Nhưng anh Đinh Văn H vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.

Ngày 26/7/2022, Tòa án nhân dân huyện H đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh Đinh Văn H và chị Đinh Thị Y. Qua xác minh, đại diện chính quyền địa phương cho biết: sau khi kết hôn, chị Đinh Thị Y và anh Đinh Văn H sinh sống và đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 1 xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống, đến tháng 5/2021 thì chị Y và anh H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H thường xuyên chơi bời, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Chị Y và anh H đã ly thân từ tháng 5/2021 đến nay. Những mâu thuẫn của chị Y, anh H đã thật sự sâu sắc, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: quá trình chung sống, chị Đinh Thị Y và anh Đinh Văn H có 01 con chung là cháu Đinh Nhã U, sinh ngày 19/4/2018. Hiện nay cháu U đang sinh sống cùng chị Y tại thôn 1, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án mà không có lý do chính đáng.

- Về nội dung: đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị Y. Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh H. Về con chung: hiện cháu Đinh Nhã U đang sinh sống cùng chị Y, do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, do đó đề nghị Tòa án giao cháu U cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung và nợ chung: chị Đinh Thị Y và anh Đinh Văn H không có tài sản chung và nợ chung, chị Y không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Bị đơn anh Đinh Văn H vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có yêu cầu gì, nên không xét giải quyết. Nguyên đơn chị Đinh Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Đinh Thị Y và anh Đinh Văn H đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 1 xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, nên căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Ninh.

Về quá trình tiến hành tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là anh Đinh Văn H. Nhưng anh H vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng. Việc Tòa án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt anh H, chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 207; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: chị Đinh Thị Y và anh Đinh Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện N, thành phố Hải Phòng ngày 26/7/2017. Hôn nhân của anh, chị là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị Y và anh H phát sinh do anh H thường xuyên chơi bời, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Vợ, chồng sống mỗi người một nơi và ly thân từ tháng 05 năm 2021 đến nay. Việc anh H vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng tại Tòa án cho thấy anh H cũng không có ý thức xây dựng gia đình, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị Y và anh H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh H là phù hợp với thực trạng quan hệ hôn nhân của anh, chị; phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: chị Đinh Thị Y và anh Đinh Văn H có 01 con chung là cháu Đinh Nhã U, sinh ngày 19/4/2018. Quá trình giải quyết vụ án, chị Y đề nghị Tòa án giao cháu U cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 9 năm 2022 đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh H, chị Y và cháu U, thấy rằng, thực tế cháu Đinh Nhã U đang ở cùng mẹ là chị Đinh Thị Y kể từ khi sinh ra (tháng 4/2018) đến nay. Mặt khác, hiện chị Y hiện đang làm công nhân, có việc làm và thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Cháu Đinh Nhã U là con gái. Do đó, để đảm bảo cháu U được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, cũng như không làm xáo trộn cuộc sống và tâm lý của trẻ em, cần giao cháu U cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Y về vấn đề con chung, giao cháu cháu Đinh Nhã U cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 9 năm 2022 đến khi cháu U trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Đinh Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Đinh Thị Y và anh Đinh Văn H không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có yêu cầu gì, nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: nguyên đơn chị Đinh Thị Y phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chị Đinh Thị Y được ly hôn với anh Đinh Văn H.

2. Về con chung: giao cháu Đinh Nhã U, sinh ngày 19/4/2018 cho chị Đinh Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 09/2022 đến khi cháu U trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Đinh Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

3. Về án phí: chị Đinh Thị Y phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2021/0013583 ngày 05 tháng 7 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Chị Đinh Thị Y đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi thường trú.

Cỡ chữ