vanban.org

Bản án 07/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Thiên Ph, sinh ngày 18/02/2018 cho ông Nguyễn Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc ông T tự nguyện không yêu cầu bà Trần Thị Ánh Tr cấp dưỡng nuôi con. Bà Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D K
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 12/4/2022
V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HUYỆN D K - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành

Ông Huỳnh Văn Phi

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Trưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện D K, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 259/2021/TLST-HNGĐ ngày 03/11/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/3/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24/3/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T

Sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn Quang Th, xã Diên H, huyện D K, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Ánh Tr

Sinh năm 1998 (1999)

Địa chỉ: Thôn Quang Th, xã Diên H, huyện D K, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/10/2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày:

Ông và bà Trần Thị Ánh Tr tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diên T vào năm 2018. Trong quá trình chung sống giữa ông và bà Tr thời gian đầu có hạnh phúc nhưng bắt đầu từ cuối năm 2020 phát sinh mâu thuẫn vợ chồng không hòa hợp về nhiều mặt trong cuộc sống, bà Tr không có trách nhiệm với gia đình, mọi việc để mình ông gánh vác. Bà Tr gây ra nợ nần, ông phải đứng ra trả nợ riêng cho bà Tr. Bà Tr ra khỏi nhà từ sáng sớm đến tối mới về, cuộc sống vợ chồng phải xây dựng từ hai phía nhưng bà Tr lại muốn đạp đổ. Nhiều lần ông đã tạo cơ hội cho bà Tr sửa đổi nhưng bà Tr vẫn không thay đổi, suốt ngày ăn chơi tụ tập bạn bè. Nay ông xác định không còn tình cảm với bà Tr vì vậy yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Tr. Về con chung: Vợ chồng ông có 01 con chung Nguyễn Hoàng Thiên Ph, sinh ngày 18/02/2018. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì bà Tr có thái độ bỏ mặc không quan tâm, chăm sóc con và ông không yêu cầu bà cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị Ánh Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, không có lời khai.

- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật, bị đơn không có lời khai, không đến Tòa án làm việc. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thanh T đối với bà Trần Thị Ánh Tr. Giao con chung Nguyễn Hoàng Thiên Ph, sinh ngày 18/02/2018 cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ghi nhận việc ông T không yêu cầu bà Tr cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T xác định vợ chồng bà không có tài sản chung và nợ chung nên không xét. Ông T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị Ánh Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật. [2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T và bà Trần Thị Ánh Tr tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diên T, huyện D K và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 15 vào ngày 08/8/2018 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Ông T xác định trong thời gian chung sống giữa ông và bà Tr thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc và không thể hàn gắn được; hiện tại, ông không còn tình cảm với bà Tr; không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án, bà Tr đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để làm việc điều này thể hiện bà Tr có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến quan hệ vợ chồng, không muốn hàn gắn đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà Tr đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn.

[3]. Về con chung: Ông T và bà Tr có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Thiên Ph, sinh ngày 18/02/2018. Ông T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì bà Tr có thái độ bỏ mặc không quan tâm, chăm sóc con; theo xác minh tại địa phương thì ông T là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung do bà Tr thường xuyên không có ở nhà nên xét cần giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật. Ghi nhận việc ông T không yêu cầu bà Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Thanh T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không giải quyết. Do bị đơn bà Trần Thị Ánh Tr chưa có lời khai về vấn đề này nên nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[5]. Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Nguyễn Thanh T được ly hôn với bà Trần Thị Ánh Tr.

2. Về con chung:

Giao con chung Nguyễn Hoàng Thiên Ph, sinh ngày 18/02/2018 cho ông Nguyễn Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc ông T tự nguyện không yêu cầu bà Trần Thị Ánh Tr cấp dưỡng nuôi con. Bà Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Quá trình nuôi dưỡng con chung, ông Nguyễn Thanh T, bà Trần Thị Ánh Tr có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; thay đổi cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà ông T đã nộp theo biên lai số AA/2021/0007565 ngày 03/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D K, tỉnh Khánh Hòa. Ông T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. 4. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ