- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu H đối với bà Lê Thị Ngọc A, ông Tống Thanh B về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/DS-ST Ngày: 20-01-2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thơ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Hòa;
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Liêm, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lâm Phượng Tú, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/2021/TLST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2021/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46C/2021/QĐST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1963; địa chỉ: Ấp T, xã M, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
2. Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc A, sinh năm 1968; (vắng mặt)
Ông Tống Thanh B, sinh năm 1967; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã M, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25-01-2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – bà Trần Thị Thu H trình bày:
Bà và bà Lê Thị Ngọc A có quen biết nhau. Vào ngày 20-02-2018 âm lịch (05-4-2018 dương lịch), bà có cho bà A vay số tiền 90.000.000 đồng, bà A nói vay để trả tiền Ngân hàng, khi vay lại được tiền sẽ trả cho bà, không thỏa thuận lãi suất. Bà đòi nhiều lần nhưng bà A cứ hẹn mà không trả, sau đó bà A hứa bán đất sẽ trả tiền cho bà nhưng cho đến nay bà Anh vẫn không trả cho chị bất kỳ khoản tiền nào.
Ngoài ra, bà có tham gia góp hụi, hụi 2.000.000 đồng/tháng, gồm 31 phần, bà tham gia 01 phần, bà đăng theo cho bà A 01 phần với số tiền 45.700.000 đồng (đã trừ tiền hoa hồng), bà A đóng lại hụi chết được 05 kỳ, còn nợ lại 25 kỳ tương đương 50.000.000 đồng. Bà có giao danh sách hụi cho bà A nhưng chủ hụi ghi tên bà; bà A có yêu cầu ghi tên bà A thì chủ hụi có gạch bỏ tên bà để ghi tên “N Em” (tên thường gọi của bà A).
Nay bà xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà A ông B có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền vay là 90.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật. Bà không yêu cầu trả tiền nợ hụi trong vụ án này.
Bà A, ông B đã được niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc bà A ông B có trách nhiệm liên đới trả cho bà H 90.000.000 đồng, ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ hụi 50.000.000 đồng. Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết và tại phiên toà bà A, ông B đã được cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 177, 178 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không lý do xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt bà A, ông B. Bà A, ông B phải chịu hậu quả của việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 91, Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà H: Tại phiên toà bà H yêu cầu bà A, ông B cùng chịu trách nhiệm trả cho chị số tiền 90.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà A, ông B vắng mặt không có lý do. Bà H có đơn yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết họ tên của bà Lê Thị Ngọc A để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Tòa án tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết họ và tên của bà A và kết luận giám định số 725/KL-KTHS ngày 08-6-2021 xác định chữ ký, chữ viết “Lê Thị Ngọc A” trên tài liệu giám định (ký hiệu A) bút lục 26 với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Thị Ngọc A trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra. Do đó, có cơ sở xác định việc bà A vay của bà H số tiền 50.000.000 đồng là có thật. Đến hạn trả nợ, bà A không trả làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà H nên cần buộc bà A có nghĩa vụ trả tiền cho bà H là có căn cứ và đúng pháp luật.
Bà H yêu cầu ông B cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ. Xét yêu cầu của bà H thấy rằng: Bà H trình bày tại thời điểm cho bà A vay tiền thì bà A ông B vẫn còn sống chung, cho đến nay bà A ông B vẫn chưa ly hôn, bà A vay tiền để trả Ngân hàng. Xét thấy, khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bà A và ông B, ông B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình, căn cứ Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần buộc ông B cùng có nghĩa vụ liên đới trả số nợ trên.
Tại phiên tòa, bà H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà A, ông B trả tiền nợ hụi là 50.000.000 đồng, căm cứ điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà H.
Từ phân tích trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận. Buộc bà A, ông B có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền 90.000.000 đồng. Ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi.
Chi phí tố tụng: Chi phí trưng cầu giám định là 2.250.000 đồng, bà H đã nộp tạm ứng. Kết quả giám định xác định đúng chữ ký chữ viết của bà A do đó bà A, ông B có nghĩa vụ hoàn trả số tiền trên cho bà H.
Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm khi toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, cụ thể: Bà A phải chịu: 90.000.000 đồng x 5% = 4.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu H đối với bà Lê Thị Ngọc A, ông Tống Thanh B về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc bà Lê Thị Ngọc A, ông Tống Thanh B có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trần Thị Thu H số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng.
Ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi.
2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu H đối với số tiền nợ hụi 50.000.000 đồng.
4. Chi phí tố tụng:
Bà A, ông B có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Thu H chi phí trưng cầu giám định chữ ký chữ viết là 2.250.000 (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng.
5. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà A, ông B phải chịu 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn) đồng.
Bà H không phải chịu án phí. Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho bà H 3.500.000 (ba triệu năm trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005509 ngày 29-01-2021.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà A, ông B vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu và trụ sở xã, phường, thị trấn nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND Huyện DMC; - THADS Huyện DMC; - Các đương sự; - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Thơ |