vanban.org

Bản án 07/2021/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank).

Buộc ông Nguyễn Tiến C (chủ hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C có trách nhiệm thanh toán trả Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank): Tổng số tiền còn nợ cho đến ngày 28/12/2020 là 1.206.780.732 đồng (một tỷ, hai trăm linh sáu triệu, bảy trăm tám mươi nghìn, bảy trăm ba hai đồng); Trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "07.KDTM"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2021/KDTM-ST
Ngày: 25/01/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Tráng

Ông Nguyễn Đình Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên

Mở phiên tòa ngày 25 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 68/2020/TLST-KDTM ngày 28 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 33A/2020/QĐST-KDTM ngày 11/12/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2020/QĐST-KDTM ngày 29/12/2020 giữa các đương sự giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank). Địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, số 109, Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Tâm - Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (theo văn bản ủy quyền số 40 ngày 12/11/2020).

- Bị đơn: Hộ kinh doanh Nguyễn Tiến C. Địa chỉ kinh doanh: Số 188, Phùng Hưng, phường PL, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh số 03A001085 do UBND quận Hà Đông, Hà Nội cấp).

Người đại diện: ông Nguyễn Tiến C, sinh năm 1977. HKTT: tổ dân phố 2, phường LK, quận Hà Đông, Hà Nội (nay là số nhà 11, ngõ 4, tổ dân phố 2, phường LK, quận Hà Đông, Hà Nội). Vắng mặt

- Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: (Đều vắng mặt)

1. Bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1939

2. Bà Nguyễn Thị Tư, sinh năm 1941

3. Bà Nguyễn Thị Phượng, sinh năm 1972

4. Ông Nguyễn Tiến Tường, sinh năm 1945

5. Bà Nguyễn Thị Nhâm, sinh năm 1942

6. Chị Bùi Thị Ngọt, sinh năm 1982

7. Chị Nguyễn Diệp Anh, sinh năm 2000

8. Cháu Nguyễn Tiến Hùng Minh, sinh năm 2008 (do ông C, bà C là đại diện)

9. Cháu Nguyễn Tiến Vương Duy, sinh năm 2010 (do ông C, bà C là đại diện).

10. Ông Nguyễn Tiến C, sinh năm 1977.

11. Bà Vương Thị Hương C; sinh năm 1978.

Đều có HKTT: tổ dân phố 2, phường LK, quận Hà Đông, Hà Nội. (nay là số nhà 11, ngõ 4, tổ dân phố 2, phường LK, quận Hà Đông, Hà Nội).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai, nguyên đơn và người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu (nay là Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu gọi tắt là GPbank) đã ký Hợp đồng tín dụng số 0009/2012/GPBBĐ-TH/HĐ ngày 15/5/2012, phụ lục Hợp đồng số 01.0009/2013/GPBBĐ-TH/PLHĐ ngày 14/06/2013, khế ước nhận nợ số 01.0009/2012/GPBBĐ- TH/KU với ông Nguyễn Tiến C (chủ hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C (vợ ông C, người đồng vay vốn), nội dụng cụ thể như sau:

Số tiền vay: 500.000.000 đồng;

Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh.

Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày giải ngân 15/5/2012.

Lãi suất vay: Áp dụng lãi suất thả nổi, thay đổi 01 tháng/01 lần, vào ngày 15 hàng tháng. Lãi suất kỳ đầu tiên 20%/năm. Kỳ tiếp theo bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả lãi cuối kỳ + biên độ theo quy định của GP.Bank tại thời điểm giải ngân/điều chỉnh. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên là toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất tại thửa đất số 148B, tờ bản đồ số 31 có địa chỉ tại: tổ dân phố 2, phường LK, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số BH 914055, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH-01431 do UBND quận Hà Đông, Hà Nội cấp ngày 17/04/2012, mang tên ông Nguyễn Tiến C và bà Vương Thị Hương C theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3, số công chứng 31/2012, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/04/2012 và phụ lục số công chứng 67/2013, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/07/2013 lập tại Văn phòng công chứng Đại Việt, Hà Nội. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Phòng tài nguyên và môi trường) quận Hà Đông, Hà Nội ngày 02/5/2012.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông C (chủ hộ kinh doanh) đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 95.697.513 đồng. Trong đó trả tiền nợ gốc 1.000.000 đồng, trả nợ lãi trong hạn là 85.276.059 đồng, trả lãi quá hạn là 9.421.454 đồng.

Tạm tính đến hết ngày 28/12/2020, dư nợ khoản vay của ông C (chủ hộ kinh doanh) và bà C cụ thể như sau:

+ Nợ gốc: 499.000.000 đồng;

+ Nợ lãi trong hạn: 43.348.356 đồng;

+ Nợ lãi quá hạn 664.432.732 đồng;

Tổng số tiền còn nợ: 1.206.780.732 đồng (một tỷ, hai trăm linh sáu triệu, bảy trăm tám mươi nghìn, bảy trăm ba hai đồng)

Lãi suất áp dụng khi vay là 20%; sau đó lãi vay thay đổi theo quy định của GPBank từng thời kỳ cho đến tháng 7/2012 khoản vay của ông C (chủ hộ kinh doanh) và bà C chuyển nợ quá hạn. Hiện lãi trong hạn áp dụng đối với khoản vay là 11,2%/năm; lãi quá hạn là 16,8%/năm.

Ngày 07/7/2015, Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu chuyển thành Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank).

Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Tiến C (chủ hộ kinh doanh) và người cùng vay vốn là bà Vương Thị Hương C thanh toán trả Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) số tiền còn nợ cho đến hết ngày 28/12/2020 là 1.206.780.732 đồng (một tỷ, hai trăm linh sáu triệu, bảy trăm tám mươi nghìn, bảy trăm ba hai đồng); Trong đó nợ gốc là 499.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 43.348.356 đồng, nợ lãi quá hạn là 664.432.376 đồng và khoản tiền lãi phát sinh đối với dư nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết với GPBank kể từ ngày 29/12/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp ông C (chủ hộ kinh doanh) và bà C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nêu trên thì Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay trên để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông C, bà C phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) bằng nguồn thu và các tài sản hợp pháp khác.

Ngân hàng tự nguyện nộp số tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định tài sản, hoàn tất thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đơn yêu cầu của Ngân hàng.

Bị đơn trình bày:

Ông C xác nhận về việc ông C (đứng tên đăng ký hộ kinh doanh) và vợ ông là bà Vương Thị Hương C có kí kết Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản để vay số tiền gốc là 500.000.000 đồng như đại diện Ngân hàng đã trình bày.

Kể từ thời điểm vay đến nay, ông C đã trả cho Ngân hàng được một số tiền. Do việc làm ăn thua lỗ, gặp nhiều khó khăn nên trong thời gian qua ông C (chủ hộ kinh doanh) đã không trả được nợ cho Ngân hàng. Ông đề xuất xin được trả toàn bộ phần nợ gốc và đề nghị Ngân hàng xem xét miễn giảm toàn bộ phần lãi cho ông.

Ông C, bà C đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 248 ngày 10/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội. Khi ly hôn ông C, bà C không đề nghị giải quyết về tài sản công nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà Vương Thị Hương C và toàn bộ những ngươì có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Song bà C và toàn bộ những ngườì có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gửi Tòa án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ những căn cứ có trong hồ sơ và ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa, có đủ cơ sở đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo số liệu đề nghị chi tiết tại phiên tòa và quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo thủ tục chung.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp thanh toán phát sinh từ Hợp đồng tín dụng giữa các chủ thể có đăng ký kinh doanh, trong thời hiệu quy định tại điều 319 Luật Thương mại; bị đơn có địa chỉ đăng ký kinh doanh tại Hà Đông, Hà Nội nên sự việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quận Hà Đông theo quy định tại khoản 1 điều 30, khoản 1 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông C là người đứng tên hộ đăng ký kinh doanh cùng vợ là bà Vương Thị Hương C đã ký Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản với Ngân hàng nên Hội đồng xét xử xác định ông C (người đứng tên đăng ký kinh doanh) là bị đơn và bà C là người có nghĩa vụ liên quan cùng ông C trong vụ án. Tại thời điểm đăng ký kinh doanh các con ông C, bà C đều chưa thành niên.

Ông C, bà C đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 248 ngày 10/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội. Khi ly hôn ông C bà C không đề nghị giải quyết về tài sản công nợ chung nên ông C, bà C có trách nhiệm giải quyết khoản nợ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung khởi kiện:

Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản được ký kết bằng văn bản giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Tiến C (là chủ hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với ngành nghề đăng ký kinh doanh của nguyên đơn, bị đơn nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành.

Các tài liệu do nguyên đơn xuất trình thể hiện: Bên cho vay Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu nay là Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) đã giải ngân cho ông Nguyễn Tiến C (người đứng tên đăng ký hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C vay số tiền 500.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 0009/2012/GPBBĐ-TH/HĐ, phụ lục Hợp đồng ngày 14/06/2013 và khế ước nhận nợ ngày 15/5/2012. Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông C và bà C đã thanh toán trả Ngân hàng GPBank tổng số tiền 95.697.513 đồng. Trong đó trả tiền nợ gốc 1.000.000 đồng, trả nợ lãi trong hạn là 85.276.059 đồng, lãi quá hạn là 9.421.454 đồng.

Đến hết ngày 28/12/2020, ông Nguyễn Tiến C (chủ hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C còn nợ Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) số tiền là 1.206.780.732 đồng (một tỷ, hai trăm linh sáu triệu, bảy trăm tám mươi nghìn, bảy trăm ba hai đồng); Trong đó nợ gốc là 499.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 43.348.356 đồng, nợ lãi quá hạn là 664.432.376 đồng

Mức lãi suất trong hạn hiện nay đang áp dụng đối với khoản vay của ông Nguyễn Tiến C (chủ hộ kinh doanh) và bà C là: 11,2%/năm. Mức lãi quá hạn là 16,8%/năm. Toàn bộ lãi phát sinh, nguyên đơn trình bày được tính theo mức lãi do Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) quy định.

Đối chiếu các thỏa thuận ghi trong Hợp đồng tín dụng, bản kê tính lãi do Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) cung cấp thấy mức lãi suất Ngân hàng áp dụng và yêu cầu là phù hợp thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, phụ lục Hợp đồng, khế ước nhận nợ giữa các bên; phù hợp với quy định của Gpbank; của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng như các quy định của Bộ luật dân sự về lãi suất nên có cơ sở chấp nhận.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) buộc ông Nguyễn Tiến C (chủ hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C phải thanh toán trả Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) toàn bộ số tiền còn nợ cho đến ngày cho đến hết ngày 28/12/2020 là 1.206.780.732 đồng (một tỷ, hai trăm linh sáu triệu, bảy trăm tám mươi nghìn, bảy trăm ba hai đồng); Trong đó nợ gốc là 499.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 43.348.356 đồng, nợ lãi quá hạn là 664.432.376 đồng và khoản nợ lãi phát sinh đối với dư nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) kể từ ngày 29/12/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn thì thấy: Tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 148B, tờ bản đồ số 31 có địa chỉ tại: tổ dân phố 2, phường LK, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số BH 914055, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH-01431 do UBND quận Hà Đông, Hà Nội cấp ngày 17/04/2012, mang tên ông Nguyễn Tiến C và bà Vương Thị Hương C theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3, số công chứng 31/2012, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/04/2012 và phụ lục số công chứng 67/2013, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/07/2013 lập tại Văn phòng công chứng Đại Việt, Hà Nội. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Phòng tài nguyên và môi trường) quận Hà Đông, Hà Nội ngày 02/5/2012.

Nội dung hợp đồng thế chấp, phụ lục Hợp đồng thế chấp tài sản và cam kết thế chấp /bảo lãnh thể hiện:

- Bên thế chấp (ông Nguyễn Tiến C và bà Vương Thị Hương C-bên C) tự nguyện thế chấp và bên A (Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu) đồng ý nhận tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng của bên thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay vốn (là ông Nguyễn Tiến C và bà Vương Thị Hương C, hộ kinh doanh Nguyễn Tiến C - bên B) tại bên A theo các hợp đồng tín dụng, hợp đồng cấp bảo lãnh …phụ lục hợp đồng…khế ước nhận nợ ..và các cam kết khác của bên B đối với bên A.

- Các trường hợp xử lý tài sản:

…Khi đến thời hạn trả nợ.. mà bên B hoặc bên C không thực hiện, thực hiện không đúng, không đủ hoặc vi phạm nghĩa vụ trả nợ bên A…

… Nếu tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng đất thì mọi tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp.

Các Hợp đồng được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định nên có hiệu lực thi hành.

Vì vậy, trường hợp ông C (chủ hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp theo thủ tục chung để thu hồi nợ.

Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên tổng số tiền phải thanh toán trả nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 342, 348, 350, 351, 355, 474, 476 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 317, Điều 322, Điều 323, Điều 357 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 90, 91, 94, 95 Luật các Tổ chức tín dụng.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank).

2. Buộc ông Nguyễn Tiến C (chủ hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C có trách nhiệm thanh toán trả Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank):

- Tổng số tiền còn nợ cho đến ngày 28/12/2020 là 1.206.780.732 đồng (một tỷ, hai trăm linh sáu triệu, bảy trăm tám mươi nghìn, bảy trăm ba hai đồng); Trong đó nợ gốc là 499.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 43.348.356 đồng, nợ lãi quá hạn là 664.432.376 đồng;

- Khoản tiền lãi phát sinh trên khoản nợ gốc kể từ ngày 29/12/2020 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Theo Hợp đồng tín dụng số số 0009/2012/GPBBĐ-TH/HĐ, phụ lục Hợp đồng và khế ước nhận nợ đã ký kết giữa hai bên.

2.1 Trường hợp ông Nguyễn Tiến C (chủ hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C không trả được khoản tiền tại mục 2 theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết thì Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành phát mại tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 148B, tờ bản đồ số 31 có địa chỉ: tổ dân phố 2, phường LK, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số BH 914055, do UBND quận Hà Đông, Hà Nội cấp ngày 17/04/2012 mang tên ông Nguyễn Tiến C và bà Vương Thị Hương C để thu hồi nợ.

2.2 Trường hợp ông Nguyễn Tiến C (chủ hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C trả được khoản nợ ghi tại mục 2 nêu trên thì Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) có trách nhiệm trả lại giấy tờ nhà đất bản chính đã thế chấp tại Ngân hàng cho người thế chấp tài sản và làm thủ tục giải chấp ngay theo quy định của pháp luật.

2.3 Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp, số tiền phát mại không đủ thanh toán cho khoản vay được bảo đảm thì ông C, bà C có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn nợ cho thì Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ.

2.4 Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp có giá trị lớn hơn số tiền ông C, bà C còn nợ Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) thì số tiền còn lại sau khi thanh toán khoản vay được trả cho người thế chấp tài sản.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

3. Về án phí:

- Ông Nguyễn Tiến C (chủ hộ kinh doanh) và bà Vương Thị Hương C phải chịu 48.203.422 đồng (bốn mươi tám triệu, hai trăm linh ba nghìn, bốn trăm hai mươi hai đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

- Trả lại Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu (GPbank) số tiền 14.700.000 đồng (mười bốn triệu bảy trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009689 ngày 28/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ