vanban.org

Bản án 07/2021/KDTM-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

TAND tỉnh Long An Tuyên án 19/11/2021 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Liên doanh T.

Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2021/KDTM-ST ngày 22 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Long An. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Y về việc yêu cầu Công ty TNHH Liên doanh T trả số tiền nợ gốc và tiền lãi quá hạn phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hó… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y "Trânh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa" Công ty Trách nhiệm hữu hạn Liên doanh T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Liên doanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2021/KDTM-PT
Ngày: 19-11-2021
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Thẩm phán:

1. Ông Trần Văn Quán

2. Ông Nguyễn Văn Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 08/2021/TLPT-KDTM ngày 07 tháng 6 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2021/KDTM-ST ngày 22 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện G bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13/2021/QĐ-PT ngày 07 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y.

Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiêp H – H1 3, ấp H2, xã H3, huyện H1, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Công H4 - Giám đốc.

Người đại diện thep ủy quyền: Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số 52/3B, đường Đ1 27, phường Đ1, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền ngày 24/11/2020).

- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Liên doanh T.

Địa chỉ trụ sở: Lô M.01, đường T1, Khu công nghiệp H5, xã H5, huyện G, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ngọc D - Tổng Giám đốc.

Người đại diện thep ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Trà M, sinh năm 1996. Địa chỉ: Số 498/44, đường C, Phường 3, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền ngày 19/3/2021).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đinh Quang L– Công ty Luật TNHH G1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Lầu 5, Tòa nhà IMM, số 99-101, đường Nguyễn Đình C1, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc D là người đại diện theo pháp luật của bị đơn - Công ty Trách nhiệm hữu hạn Liên doanh T.

(Bà M và Luật sư Lcó mặt;

Ông Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 24/11/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Đình Đ là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y trình bày:

Ngày 02/01/2018, Công ty TNHH Y (gọi tắt là Công ty Y) với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Liên doanh T (gọi tắt là Công ty T) thỏa thuận ký Hợp đồng mua bán hàng hóa số 10/2018/HĐM-PYE, đối tượng của Hợp đồng mua bán này là thùng carton 3 lớp và 5 lớp. Công ty Y cám kết đảm bảo đúng số lượng và chất lượng hàng hóa theo đúng yêu cầu về chủng loại, quy cách, in ấn trên thùng carton mẫu có chữ ký xác nhận của Công ty T. Căn cứ các phiếu xuất kho, giao nhận hàng giữa hai bên thể hiện Công ty Y đã thực hiện việc giao hàng đúng số lượng, chất lượng hàng hóa theo đúng yêu cầu về chủng loại, quy cách cho Công ty T. Khi thanh toán tiền có xuất hóa đơn giá trị gia tăng bên mua hàng Công ty T và bên bán hàng Công ty Y đều có ký tên xác nhận đầy đủ.

Tuy nhiên, về phía Công ty T lại không thực hiện đúng thỏa thuận về nghĩa vụ thanh toán, cố tình trì hoãn việc trả tiền hàng cho Công ty Y Căn cứ các Bản đối chiếu công nợ và xác nhận nợ vào các ngày 31/10/2018, 30/11/2018, 31/12/2018, 31/01/2019, 23/9/2019, 10/3/2020 và 31/10/2020. Theo Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ ngày 31/10/2020, bà Lâm Ngọc T2 – Tổng Giám đốc Công ty T thừa nhận còn nợ của Công ty Y tính đến ngày 31/10/2020 tổng cộng số tiền là 1.740.535.687 đồng.

Do đó Công ty Y khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty T phải thanh toán cho Công ty Y số tiền còn nợ tính đến ngày 22 tháng 3 năm 2021 là 2.440.671.979 đồng (trong đó, nợ gốc 1.740.535.687 đồng và nợ lãi 700.136.292 đồng). Đồng thời, yêu cầu Công ty T phải thực hiện trả nợ ngay sau khi bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật.

* Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà Thiều Thị Kiều Thu là người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH Liên doanh T trình bày:

Việc Công ty Y yêu cầu Công ty T phải thanh toán tổng cộng 2.356.995.734 đồng gồm 1.740.353.687 đồng tiền nợ gốc và 616.460.047 đồng tiền lãi chậm trả tạm tính đến thời điểm khởi kiện thì Công ty T không đồng ý. Công ty T đồng ý thanh toán cho Công ty TNHH Y 1.740.353.687 đồng tiền nợ gốc nhưng phải có thời gian và phương thức trả. Nếu Công ty Y không đồng ý để cho Công ty T trả 1.740.353.687 đồng tiền nợ gốc thì đề nghị Tòa án cho đối chiếu công nợ, các chứng từ, tài liệu liên quan đến việc mua bán hàng hóa giữa hai Công ty.

Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2021/KDTM-ST ngày 22/3/2021, Tòa án nhân dân huyện G đã căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 4, 24, 50, 55 và 306 của Luật Thương mại năm 2005 và Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Y đối với Công ty TNHH liên doanh T.

Buộc Công ty TNHH liên doanh T phải trả cho Công ty TNHH Y số tiền 2.440.671.979 (Hai tỷ bốn trăm bốn mươi triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm bảy mươi chín nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 37/2020/QĐ-BPKCTT ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện G tiếp tục có hiệu lực pháp luật đến khi có Quyết định khác thay thế.

Về án phí: Công ty TNHH liên doanh T phải chịu 80.813.500 (Tám mươi triệu tám trăm mười ba nghìn năm trăm) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty TNHH Y số tiền 39.569.957 đồng, đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0008705, ngày 26/11/2020, tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 06/4/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc D là người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty T kháng cáo không đồng ý bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm, cụ thể:

- Tòa án cấp sơ thẩm không tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phía bị đơn là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

- Công ty T không đồng ý trả cho Công ty Y tổng cộng số tiền 2.440.671.979 đồng gồm 1.740.353.687 đồng tiền nợ gốc và 700.136.292 đồng tiền lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bà Nguyễn Thị Trà M là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty T có ý kiến trình bày: Công ty T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đối với Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ ngày 31/10/2020 do bà Lâm Ngọc T2 – Tổng Giám đốc Công ty T ký và đóng dấu, đây chỉ ghi nhận chứ không phải xác nhận nợ và đối chiếu công nợ chính thức vì lúc đó hai bên chỉ đang trong quá trình làm việc.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - Luật sư Đinh Quang Lphát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cụ thể: Bà T4 và bà C2 là người được Công ty T ủy quyền tham gia tố tụng lúc đầu không được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ nhất hợp lệ; Kể từ ngày 01/3/2021, bà M được Công ty T ủy quyền tham gia tố tụng nhưng bà M vẫn không nhận được Giấy triệu tập hay thông báo về việc tham gia phiên tòa ngày 22/3/2021; Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty T cũng không nhận được Giấy triệu tập hay thông báo về việc tham gia phiên tòa ngày 22/3/2021. Như vậy, Tòa án sơ thẩm đã không tống đạt hợp lệ và vi phạm về thời gian gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập cho phía Công ty T, từ đó xét xử vắng mặt Công ty T là gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T, vi phạm này là không thể khắc phục được.

- Về nội dung vụ án: Tòa sơ thẩm xác định khoảng thời gian Công ty T chịu lãi quá hạn tính từ ngày 45 kể từ ngày trên hóa đơn đối với mỗi khoản công nợ cho đến ngày 10/3/2020 là chưa phù hợp, vì theo quy định về hợp đồng nguyên tắc thì thời hạn thanh toán của Công ty T chỉ bắt đầu tính từ ngày tiếp theo ngày Công ty T nhận được đồng thời là hàng hóa và bộ chứng từ thanh toán, trong đó có hóa đơn giá trị gia tăng từ Công ty Y. Do đó nghĩa vụ trả lãi thanh toán quá hạn của Công ty T chỉ phát sinh từ ngày thứ 47 kể từ ngày Công ty T nhận được đồng thời là hàng hóa và bộ chứng từ thanh toán, trong đó có hóa đơn giá trị gia tăng từ Công ty Y. Tòa án sơ thẩm phải căn cứ thêm thời điểm giao hàng được Công ty T xác nhận; Về lãi suất chậm thanh toán được xác định 1.5%/tháng là chưa đúng thỏa thuận của các bên, do các biên bản đối chiếu xác nhận nợ không phải do người đại diện theo pháp luật hay người đại diện theo ủy quyền của Công ty T ký xác nhận và thay đổi lãi suất mà các bên đã thỏa thuận theo hợp đồng, nên không thể căn cứ vào đó để áp dụng làm căn cứ tính lãi suất quá hạn đối với Công ty T. Còn đối với Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ ngày 31/10/2020 do bà Lâm Ngọc T2 – Tổng Giám đốc Công ty T ký và đóng dấu, phía Công ty T xác định chỉ xác nhận số nợ gốc 1.740.535.687đ, còn về tiền lãi là không có xác nhận, bà T2 chỉ ký để ghi nhận và về đối chiếu lại thôi.

Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty T, hủy toàn bộ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH liên doanh T thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

- Về nội dung kháng cáo của bị đơn:

Đối với kháng cáo về thủ tục tố tụng: không có đủ căn cứ để xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc cấp, tống đạt và bàn giao các văn bản tố tụng không phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể: theo hồ sơ thể hiện các lần tống đạt để mở phiên tòa đều có người nhận nhưng không đồng ý ký tên (các bút lục 170, 172, 173, 180), cụ thể hơn là tại phiên tòa mở ngày 03/3/2021 phía bị đơn đã nhận được văn bản tống đạt mở phiên tòa và đã có làm văn bản xin hoãn phiên tòa; phiên tòa ngày 22/3/2021 do nhân viên của Văn phòng Luật sư (bảo vệ quyền lợi cho bị đơn) Vũ Thị Ngọc D đã nhận ký tên và cam kết giao lại – điểm này phù hợp với trình bày của phía bị đơn (bị đơn và Luật sư) tại phiên tòa phúc thầm là có thống nhất đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt văn bản tố tụng tại văn phòng Luật sư để không bị thất lạc, phía Luật sư của bị đơn cũng thừa nhận người có họ tên Vũ Thị Ngọc D là nhân viên của Công ty Luật TNHH G1.

Đối với kháng cáo về nội dung vụ án: Phía bị đơn trình bày vào thời điểm ký kết các Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ ngày 31/10/2018, 30/11/2018, 31/12/2018) ông T2 và bà R đều không phải là người đại diện theo pháp luật và đồng thời cũng không phải là người được ủy quyền hợp pháp bởi Công ty T nhưng hồ sơ còn thể hiện một chứng cứ khác đó là chữ ký xác nhận nợ của bà Lâm Ngọc T2 có đóng con dấu của Công ty T ngày 31/10/2020. Tại phiên tòa, đại diện phía bị đơn cũng thừa nhận chữ ký của bà T2 và con dấu của Công ty nhưng lại trình bày là ký để đối chiếu lại chứ không phải ký để xác nhận nợ. Trình bày này là không có căn cứ chấp nhận vì trước khi ký bà T2 ghi rất rõ ràng dòng chữ “Xác nhận: đến 31/10/2020 T còn nợ Y số tiền: 1.740.535.687 đồng”, đồng thời tại Biên bản hòa giải ngày 12/01/2021 phía đại diện bị đơn có trình bày là có thiện chí đồng ý thanh toán số tiền 1.740.535.687 đồng. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định số nợ gốc còn nợ đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 1.740.535.687 đồng. Về thời hạn tính lãi suất chậm trả và mức lãi suất áp dụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã tính thời hạn đúng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Dân sự và mức lãi suất phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.

Từ những điểm trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty T. Căn cứ khoản1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc D là người đại diện theo pháp luật của bị đơn - Công ty TNHH liên doanh T thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn:

Ngày 12/11/2021, ông Nguyễn Đình Đ là người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Y có đơn đề nghị xét xử vắng nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 196 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.

Về yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Liên doanh T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Về thủ tục tố tụng:

Ngày 04/12/2020, bà Lâm Ngọc T2 – Tổng Giám đốc Công ty TNHH Liên doanh T ủy cho bà Huỳnh Thị Kim C2 và bà Thiều Thị Kiều T4 (địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Văn phòng IMM Group, 99-101, đường C1, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh) tham gia tố tụng trong vụ án này.

Ngày 29/01/2021, Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2021/QĐXXST-KDTM, theo Quyết định này thì Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên tòa xét xử vụ án này vào ngày 18/02/2021. Tuy nhiên, do Hội thẩm nhân dân bận công tác đột xuất nên ngày 17/02/2021, Tòa án cấp sơ thẩm ra Thông báo số 22/TB-TA dời phiên tòa xét xử vụ án này sang ngày 03/3/2021.

Sau đó, Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy báo phiên tòa và Thông báo dời ngày mở phiên tòa cho bà T3 và Luật sư Đinh Quang L.

Đến ngày 01/3/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc D là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Liên doanh T có đơn yêu cầu hoãn phiên tòa ngày 03/3/2021.

Ngày 03/3/2021, Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2021/QĐST-KDTM mở lại phiên tòa ngày 12/3/2021. Cũng trong ngày 03/3/2021, Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt Quyết định này cho Công ty TNHH Liên doanh T, nhân viên Công ty nhận Quyết định nhưng không ký tên với lý do Công ty TNHH Liên doanh T đã đổi thành Công ty TNHH T. Tòa án cấp sơ thẩm có lập Biên bản về việc không tiến hành tống đạt văn bản tố tụng được, có người chứng kiến và có xác nhận của Đồn Công an Khu Công nghiệp Long Hậu.

Ngày 12/3/2021, Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2021/QĐST-KDTM mở lại phiên tòa ngày 22/3/2021. Ngày 19/3/2021, Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt Quyết định này cho người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Liên doanh T và Luật sư Đinh Quang L do bà Vũ Thị Ngọc D (địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Văn phòng IMM Group, 99-101, đường Nguyễn Đình C1, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh) là nhân viên của Công ty Luật TNHH G1 nhận thay và cam kết giao lại. Tòa án cấp sơ thẩm có lập Biên bản có người chứng kiến, bà D có ký tên và có xác nhận của UBND Phường 6. Cũng trong ngày 19/3/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc D là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Liên doanh T có Văn bản ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Trà M tham gia tố tụng trong vụ án này nhưng không có Văn bản hủy bỏ ủy quyền cho bà bà Huỳnh Thị Kim C2 và bà Thiều Thị Kiều T4 ngày 04/12/2020.

Do phía bị đơn và Luật sư Đinh Quang L đã được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt phía bị đơn và Luật sư Đinh Quang L là đúng. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, phía bị đơn có đơn kháng cáo, đơn này đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vẫn được đảm bảo. Do đó, việc phía bị đơn và Luật sư Đinh Quang L đề nghị hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm là không có cơ sở nên không được chấp nhận. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án này ở Tòa án cấp sơ thẩm, phía bị đơn không có thiện chí hợp tác, gây khó khăn trong công tác tống đạt Văn bản tố tụng của Tòa án với mục đích nhằm kéo dài việc giải quyết vụ án.

Về nội dung:

Về số tiền nợ gốc:

Ngày 02/01/2018, Công ty TNHH Y với Công ty TNHH Liên doanh T thỏa thuận ký Hợp đồng mua bán hàng hóa số 10/2018/HĐM-PYE, đối tượng của Hợp đồng mua bán này là thùng carton 3 lớp và 5 lớp. Công ty TNHH Y cám kết đảm bảo đúng số lượng và chất lượng hàng hóa theo đúng yêu cầu về chủng loại, quy cách, in ấn trên thùng carton mẫu có chữ ký xác nhận của Công ty TNHH Liên doanh T. Căn cứ các phiếu xuất kho, giao nhận hàng giữa hai bên thể hiện Công ty TNHH Y đã thực hiện việc giao hàng đúng số lượng, chất lượng hàng hóa theo đúng yêu cầu về chủng loại, quy cách cho Công ty TNHH Liên doanh T. Khi thanh toán tiền có xuất hóa đơn giá trị gia tăng bên mua hàng Công ty TNHH Liên doanh T và bên bán hàng Công ty TNHH Y đều có ký tên xác nhận đầy đủ. Mặt khác, giữa Công ty TNHH Liên doanh T với Công ty TNHH Y đã thực hiện việc đối chiếu công nợ và xác nhận nợ vào các ngày 31/10/2018, 30/11/2018, 31/12/2018, 31/01/2019, 23/9/2019, 10/3/2020 và 31/10/2020. Theo Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ ngày 31/10/2020, bà Lâm Ngọc T2 – Tổng Giám đốc Công ty TNHH Liên doanh T thừa nhận còn nợ của Công ty TNHH Y tính đến ngày 31/10/2020 tổng cộng số tiền là 1.740.535.687 đồng. Sự thừa nhận nợ này phù hợp với tổng số tiền trong các hóa đơn, chứng từ do phía Công ty TNHH Y cung cấp là 1.740.535.687 đồng là tiền gốc. Các phiếu xuất kho, hóa đơn giá trị gia tăng, biên bản chi tiết tính lãi quá hạn, biên bản đối chiếu và xác nhận nợ, Công ty TNHH Y cung cấp bản chính và đã được Tòa án đối chiếu bản chính là phù hợp với Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xử buộc Công ty TNHH Liên doanh T có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH Y tổng cộng 1.740.535.687 đồng tiền nợ gốc là có căn cứ.

Về tiền lãi quá hạn tính từ ngày 22/9/2018 đến ngày 10/3/2020: Theo nội dung Hợp đồng mua bán hàng hóa số 10/2018/HĐM-PYE ngày 02/01/2018, hai bên thỏa thuận nếu Công ty TNHH Liên doanh T để nợ quá hạn thanh toán kể từ ngày đến hạn thì Công ty TNHH Liên doanh T sẽ chịu số tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất quá hạn của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam công bố theo từng thời điểm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng thì các bên đã thỏa thuận lại lãi suất là 1,5%/tháng thể hiện tại Bảng kê chi tiết tính lãi quá hạn ngày 10/3/2020 (Bút lục số 288, 289) và Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ ngày 31/10/2020 là phù hợp với quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại. Do đó, buộc Công ty TNHH Liên doanh T trả cho Công ty TNHH Y số tiền lãi quá hạn, tính từ ngày vi phạm cho đến ngày 10/3/2020 trên số tiền gốc là 1.954.786.261 đồng, cụ thể như sau: BẢNG KÊ CHI TIẾT NỢ VÀ TÍNH LÃI QUÁ HẠN LÃI SUẤT 1,5%/THÁNG

TỪ NĂM 2018 ĐẾN NGÀY 10/03/2020

Giá trị hóa

Số

Tính lãi tỷ lệ 18%/ năm

Giá trị hóa

đơn - NỢ

ngày

Số

đơn - NỢ Ngày

GỐC từ năm

nợ

hóa

Số Tiền lãi quá GỐC từ Ngày hóa đơn

2018 đến

không

Ngày kết

đơn

Ngày bắt

ngày hạn tính đến 06/10/2020

ngày

tính

thúc tính

đầu tính lãi

quá

ngày

đến nay

05/10/2020

lãi

lãi

hạn 10/03/2020 9/22/2018 3487 16,663,198

45 11/6/2018 3/10/2020 490 4,082,484

9/24/2018 3492 48,021,600

45 11/8/2018 3/10/2020 488 11,717,270

9/24/2018 3494 75,481,186

45 11/8/2018 3/10/2020 488 18,417,409

9/24/2018 3495 44,688,600

45 11/8/2018 3/10/2020 488 10,904,018

9/26/2018 3524 26,266,812

45 11/10/2018 3/10/2020 486 6,382,835

9/29/2018 3582 17,113,382

45 11/13/2018 3/10/2020 483 4,132,882

13,984,204 9/29/2018 3583 9,672,410

45 11/13/2018 3/10/2020 483 2,335,887

9,672,410 9/29/2018 3589 31,668,208

45 11/13/2018 3/10/2020 483 7,647,872

31,668,208 9/29/2018 3590 11,142,813

45 11/13/2018 3/10/2020 483 2,690,989

11,142,813 10/4/2018 3643 37,038,859

45 11/18/2018 3/10/2020 478 8,852,287

37,038,859 10/5/2018 3653 43,549,000

45 11/19/2018 3/10/2020 477 10,386,437 43,549,000 10/9/2018 3694 24,567,213

45 11/23/2018 3/10/2020 473 5,810,146

24,567,213 10/10/2018 3703 4,730,000

45 11/24/2018 3/10/2020 472 1,116,280

4,730,000 10/17/2018 3798 51,969,225

45 12/1/2018 3/10/2020 465 12,082,845 51,969,225 10/18/2018 3802 14,745,588

45 12/2/2018 3/10/2020 464 3,420,976

14,745,588 10/22/2018 3843 11,770,000

45 12/6/2018 3/10/2020 460 2,707,100

11,770,000 10/25/2018 3890 55,319,000

45 12/9/2018 3/10/2020 457 12,640,392 55,319,000 10/25/2018 3896 15,610,023

45 12/9/2018 3/10/2020 457 3,566,890

15,610,023 10/26/2018 3906 21,243,134

45 12/10/2018 3/10/2020 456 4,843,435

21,243,134 10/29/2018 3936 80,916,924

45 12/13/2018 3/10/2020 453 18,327,683 80,916,924 10/29/2018 3939 35,192,300

45 12/13/2018 3/10/2020 453 7,971,056

35,192,300 10/31/2018 3970 88,486,860

45 12/15/2018 3/10/2020 451 19,953,787 88,486,860 11/1/2018 3981 28,920,144

45 12/16/2018 3/10/2020 450 6,507,032

28,920,144 11/1/2018 3983 7,843,000

45 12/16/2018 3/10/2020 450 1,764,675

7,843,000 11/3/2018 4005 35,603,139

45 12/18/2018 3/10/2020 448 7,975,103

35,603,139 11/3/2018 4006 9,500,909

45 12/18/2018 3/10/2020 448 2,128,204

9,500,909 11/5/2018 4013 20,818,875

45 12/20/2018 3/10/2020 446 4,642,609

20,818,875 11/5/2018 4023 88,653,400

45 12/20/2018 3/10/2020 446 19,769,708 88,653,400 11/6/2018 4036 3,993,000

45 12/21/2018 3/10/2020 445

888,443

3,993,000 11/6/2018 4037 42,277,400

45 12/21/2018 3/10/2020 445 9,406,722

42,277,400 11/9/2018 4077 63,670,750

45 12/24/2018 3/10/2020 442 14,071,236 63,670,750 11/9/2018 4085 101,733,500

45 12/24/2018 3/10/2020 442 22,483,104 101,733,500 11/13/2018 4129 27,789,311

45 12/28/2018 3/10/2020 438 6,085,859

27,789,311 11/14/2018 4141 18,962,790

45 12/29/2018 3/10/2020 437 4,143,370

18,962,790 11/15/2018 4156 9,347,899

45 12/30/2018 3/10/2020 436 2,037,842

9,347,899 11/22/2018 4247 17,754,660

45

1/6/2019 3/10/2020 429 3,808,375

17,754,660 11/24/2018 4279 33,090,585

45

1/8/2019 3/10/2020 427 7,064,840

33,090,585 11/24/2018 4280 82,654,583

45

1/8/2019 3/10/2020 427 17,646,753 82,654,583 11/28/2018 4339 45,870,517

45 1/12/2019 3/10/2020 423 9,701,614

45,870,517 11/30/2018 4370 62,525,848

45 1/14/2019 3/10/2020 421 13,161,691 62,525,848 12/4/2018 4427 1,320,000

45 1/18/2019 3/10/2020 417

275,220

1,320,000 12/5/2018 4433 14,694,570

45 1/19/2019 3/10/2020 416 3,056,471

14,694,570 12/7/2018 4462 24,824,811

45 1/21/2019 3/10/2020 414 5,138,736

24,824,811 12/7/2018 4463 16,325,397

45 1/21/2019 3/10/2020 414 3,379,357

16,325,397 12/7/2018 4464 20,062,648

45 1/21/2019 3/10/2020 414 4,152,968

20,062,648 12/11/2018 4500 16,486,470

45 1/25/2019 3/10/2020 410 3,379,726

16,486,470 12/13/2018 4527 22,390,157

45 1/27/2019 3/10/2020 408 4,567,592

22,390,157 12/15/2018 4560 29,382,859

45 1/29/2019 3/10/2020 406 5,964,720

29,382,859 12/18/2018 4589 46,642,288

45

2/1/2019 3/10/2020 403 9,398,421

46,642,288 12/19/2018 4602 23,577,015

45

2/2/2019 3/10/2020 402 4,738,980

23,577,015 12/19/2018 4603 1,562,000

45

2/2/2019 3/10/2020 402

313,962

1,562,000 12/21/2018 4627 23,020,756

45

2/4/2019 3/10/2020 400 4,604,151

23,020,756 12/22/2018 4646 42,982,665

45

2/5/2019 3/10/2020 399 8,575,042

42,982,665 12/25/2018 4676 7,297,279

45

2/8/2019 3/10/2020 396 1,444,861

7,297,279 12/31/2018 4750 10,584,530

45 2/14/2019 3/10/2020 390 2,063,983

10,584,530 1/2/2019 4764 10,497,652

45 2/16/2019 3/10/2020 388 2,036,544

10,497,652 1/7/2019 4818 15,485,008

45 2/21/2019 3/10/2020 383 2,965,379

15,485,008 1/9/2019 4858 40,862,283

45 2/23/2019 3/10/2020 381 7,784,265

40,862,283 1/11/2019 4886 5,153,036

45 2/25/2019 3/10/2020 379

976,500

5,153,036 1/15/2019 4928 36,128,202

45

3/1/2019 3/10/2020 375 6,774,038

36,128,202 1/22/2019 10

4,747,050

45

3/8/2019 3/10/2020 368

873,457

4,747,050 1/28/2019 70

21,152,340

45 3/14/2019 3/10/2020 362 3,828,574

21,152,340 2/27/2019 276

9,890,100

45 4/13/2019 3/10/2020 332 1,641,757

9,890,100 3/4/2019 326 31,047,500

45 4/18/2019 3/10/2020 327 5,076,266

31,047,500 3/11/2019 407 11,803,000

45 4/25/2019 3/10/2020 320 1,888,480

11,803,000 CỘNG

1,954,786,261

428,177,591 1,740,535,687

Như vậy, tổng số tiền lãi quá hạn tính từ ngày 22/9/2018 đến ngày 10/3/2020 là 428.177.591 đồng.

Về tiền lãi quá hạn tính từ ngày 11/3/2020 đến ngày 22/3/2021 (ngày xét xử sơ thẩm):

Xét theo Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ ngày 31/10/2020 thì thể hiện Công ty TNHH Liên doanh T xác nhận còn nợ của Công ty TNHH Y số tiền 1.740.535.687 đồng nhưng không có thỏa thuận về mức lãi suất đối với số tiền lãi quá hạn. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Y yêu cầu tính số tiền lãi quá hạn từ ngày 11/3/2020 đến ngày 22/3/2020 theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời hạn chậm trả trên số tiền gốc 1.740.535.687 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại nên được chấp nhận.

Mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của 03 ngân hàng tại thời điểm thanh toán năm 2021 gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) lãi suất cho vay 10%/năm; Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) lãi suất cho vay 10%/năm; Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam (Vietinbank) lãi suất cho vay 10%/năm (10 + 10 +10) : 3 x 150% = 15%/năm : 12 tháng = 1,25%/tháng. Do đó, buộc Công ty TNHH Liên doanh T trả cho Công ty TNHH Y số tiền lãi quá hạn tính từ ngày 11/3/2020 đến ngày 22/3/2020 theo mức lãi suất 1,25%/tháng trên số tiền gốc là 1.740.535.687 đồng, cụ thể như sau: BẢNG KÊ CHI TIẾT NỢ VÀ TÍNH LÃI QUÁ HẠN LÃI SUẤT 1,25%/THÁNG TỪ 11/03/2020

ĐẾN NGÀY 22/03/2021

Tính lãi tỷ lệ 1,25% tháng

Giá trị hóa đơn - Ngày hóa Số hóa

NỢ GỐC từ

Tiền lãi quá đơn

đơn

Ngày 06/10/2020

Ngày kết

Ngày bắt đầu

Số ngày

hạn tính đến

đến nay

thúc tính

tính lãi

quá hạn

ngày

lãi

22/03/2021 9/29/2018

3582 13,984,204

3/11/2020 3/22/2021

375 2,185,032 9/29/2018

3583 9,672,410

3/11/2020 3/22/2021

375 1,511,314 9/29/2018

3589 31,668,208

3/11/2020 3/22/2021

375 4,948,158 9/29/2018

3590 11,142,813

3/11/2020 3/22/2021

375 1,741,065 10/4/2018

3643 37,038,859

3/11/2020 3/22/2021

375 5,787,322 10/5/2018

3653 43,549,000

3/11/2020 3/22/2021

375 6,804,531 10/9/2018

3694 24,567,213

3/11/2020 3/22/2021

375 3,838,627 10/10/2018

3703 4,730,000

3/11/2020 3/22/2021

375 739,063 10/17/2018

3798 51,969,225

3/11/2020 3/22/2021

375 8,120,191 10/18/2018

3802

3/11/2020 3/22/2021

14,745,588

2,303,998 10/22/2018

3843 11,770,000

3/11/2020 3/22/2021

375 1,839,063 10/25/2018

3890 55,319,000

3/11/2020 3/22/2021

375 8,643,594 10/25/2018

3896 15,610,023

3/11/2020 3/22/2021

375 2,439,066 10/26/2018

3906 21,243,134

3/11/2020 3/22/2021

375 3,319,240 10/29/2018

3936 80,916,924

3/11/2020 3/22/2021

375 12,643,269 10/29/2018

3939 35,192,300

3/11/2020 3/22/2021

375 5,498,797 10/31/2018

3970 88,486,860

3/11/2020 3/22/2021

375 13,826,072 11/1/2018

3981 28,920,144

3/11/2020 3/22/2021

375 4,518,773 11/1/2018

3983 7,843,000

3/11/2020 3/22/2021

375 1,225,469 11/3/2018

4005 35,603,139

3/11/2020 3/22/2021

375 5,562,990 11/3/2018

4006 9,500,909

3/11/2020 3/22/2021

375 1,484,517 11/5/2018

4013 20,818,875

3/11/2020 3/22/2021

375 3,252,949 11/5/2018

4023 88,653,400

3/11/2020 3/22/2021

375 13,852,094 11/6/2018

4036 3,993,000

3/11/2020 3/22/2021

375 623,906 11/6/2018

4037 42,277,400

3/11/2020 3/22/2021

375 6,605,844 11/9/2018

4077 63,670,750

3/11/2020 3/22/2021

375 9,948,555 11/9/2018

4085 101,733,500

3/11/2020 3/22/2021

375 15,895,859 11/13/2018

4129 27,789,311

3/11/2020 3/22/2021

375 4,342,080 11/14/2018

4141 18,962,790

3/11/2020 3/22/2021

375 2,962,936 11/15/2018

4156 9,347,899

3/11/2020 3/22/2021

375 1,460,609 11/22/2018

4247 17,754,660

3/11/2020 3/22/2021

375 2,774,166 11/24/2018

4279 33,090,585

3/11/2020 3/22/2021

375 5,170,404 11/24/2018

4280 82,654,583

3/11/2020 3/22/2021

375 12,914,779 11/28/2018

4339 45,870,517

3/11/2020 3/22/2021

375 7,167,268 11/30/2018

4370 62,525,848

3/11/2020 3/22/2021

375 9,769,664 12/4/2018

4427 1,320,000

3/11/2020 3/22/2021

375 206,250 12/5/2018

4433 14,694,570

3/11/2020 3/22/2021

375 2,296,027 12/7/2018

4462 24,824,811

3/11/2020 3/22/2021

375 3,878,877 12/7/2018

4463 16,325,397

3/11/2020 3/22/2021

375 2,550,843 12/7/2018

4464 20,062,648

3/11/2020 3/22/2021

375 3,134,789 12/11/2018

4500 16,486,470

3/11/2020 3/22/2021

375 2,576,011 12/13/2018

4527 22,390,157

3/11/2020 3/22/2021

375 3,498,462 12/15/2018

4560 29,382,859

3/11/2020 3/22/2021

375 4,591,072 12/18/2018

4589 46,642,288

3/11/2020 3/22/2021

375 7,287,858 12/19/2018

4602 23,577,015

3/11/2020 3/22/2021

375 3,683,909 12/19/2018

4603 1,562,000

3/11/2020 3/22/2021

375 244,063 12/21/2018

4627 23,020,756

3/11/2020 3/22/2021

375 3,596,993 12/22/2018

4646 42,982,665

3/11/2020 3/22/2021

375 6,716,041 12/25/2018

4676 7,297,279

3/11/2020 3/22/2021

375 1,140,200 12/31/2018

4750 10,584,530

3/11/2020 3/22/2021

375 1,653,833 1/2/2019

4764 10,497,652

3/11/2020 3/22/2021

375 1,640,258 1/7/2019

4818 15,485,008

3/11/2020 3/22/2021

375 2,419,533 1/9/2019

4858 40,862,283

3/11/2020 3/22/2021

375 6,384,732 1/11/2019

4886 5,153,036

3/11/2020 3/22/2021

375 805,162 1/15/2019

4928 36,128,202

3/11/2020 3/22/2021

375 5,645,032 1/22/2019

10 4,747,050

3/11/2020 3/22/2021

375 741,727 1/28/2019

70 21,152,340

3/11/2020 3/22/2021

375 3,305,053 2/27/2019

276 9,890,100

3/11/2020 3/22/2021

375 1,545,328 3/4/2019

326 31,047,500

3/11/2020 3/22/2021

375 4,851,172 3/11/2019

407 11,803,000

3/11/2020 3/22/2021

375 1,844,219 CỘNG

1,740,535,687

271,958,701

Như vậy, tổng tiền lãi quá hạn tính từ ngày 11/3/2020 đến ngày 22/3/2021 là 271.958.701 đồng.

Từ nhận định ở đoạn [3], Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Liên doanh T, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm về cách tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định tại các Điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 26, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể:

Công ty TNHH Liên doanh T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với yêu cầu của Công ty TNHH Y được chấp nhận toàn bộ là: 72.000.000 đồng + 02% x (2.440.671.979 đồng – 2.000.000.000 đồng) = 80.813.500 đồng.

Công ty TNHH Liên doanh T phải chịu án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Liên doanh T.

- Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2021/KDTM-ST ngày 22 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 4, 24, 50, 55, 306 của Luật Thương mại năm 2005; các Điều 26, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Y về việc yêu cầu Công ty TNHH Liên doanh T trả số tiền nợ gốc và tiền lãi quá hạn phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa.

Buộc Công ty TNHH Liên doanh T phải trả cho Công ty TNHH Y 1.740.535.687 đồng tiền nợ gốc và 700.136.292 đồng tiền lãi, tổng cộng là 2.440.671.979 đồng (hai tỷ bốn trăm bốn mươi triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm bảy mươi chín đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 37/2020/QĐ-BPKCTT ngày 10/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện G để đảm bảo việc thi hành án.

3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Buộc Công ty TNHH Liên doanh T phải nộp 80.813.500 đồng (tám mươi triệu tám trăm mười ba nghìn năm trăm đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty TNHH Y 39.569.957 đồng (ba mươi chín triệu năm trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008705 ngày 26/11/2020 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.

4. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:

Buộc Công ty TNHH Liên doanh T phải nộp 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008457 ngày 15/4/2021 và 1.700.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001252 ngày 21/5/2021 cùng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện G nên không phải nộp tiếp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ