vanban.org

Bản án 07/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 17/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Phạm Mạnh T 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 07/1/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Mạnh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Mạnh T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2021/HS-ST
Ngày 17/3 /2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thương;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hạnh và bà Nguyễn Thị Hệ;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký viên chính Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đào Ngọc Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2021/HSST ngày 08/02/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HS ngày 04/3/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Mạnh T, sinh năm 199*, tại Hưng Yên; Nơi đăng ký HKTT/Nơi cư trú: Số XYZ đường ĐB, phường QT, thành phố HY, tỉnh Hưng Yên; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn D, sinh năm 19** (Đã chết) và bà Vũ Thị D, sinh năm 19**; vợ, con: chưa có; tiền sự: Không;

Tiền án:

- Ngày 10/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/9/2017.

- Ngày 23/3/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/12/2019.

Nhân thân:

- Ngày 20/4/2012 bị Công an thành phố Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 12/01/2016 bị Công an thành phố Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác và trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hưng Yên (Có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại: Anh Trần Đăng H, sinh năm 199* (Vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn ĐĐ, xã TN, thành phố HY, tỉnh Hưng Yên.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Văn H1, sinh năm 19** (Vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn VT, xã BK, thành phố HY, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Nguyễn Duy K, sinh năm 199* (Có mặt);

Địa chỉ: Ngõ AB, đường NTT, phường MK, thành phố HY, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 02/9/2020 Phạm Mạnh T sinh năm 199*, đăng ký HKTT tại Số XYZ đường ĐB, phường QT, thành phố HY đi xe môtô Yamaha Jupiter BKS 89H2-5299 đến khu vực xã TN xem nhà ai có sơ hở gì thì trộm cắp tài sản. Khi T đi đến trước cửa nhà anh Trần Đăng H ở Thôn ĐĐ, xã TN, thành phố HY, phát hiện thấy trước cửa nhà có một thùng đựng trứng, không có người trông coi nên T đã lén lút trộm cắp 02 túi lưới, mỗi túi có 50 quả trứng vịt, loại trứng thường. Sau khi trộm cắp, T đi về Bến xe khách Hưng Yên và bán số trứng đã trộm cắp cho một người phụ nữ được 130.000 đồng.

Khoảng 09 giờ ngày 26/9/2020, sau khi uống Methadol tại Bệnh viện nhiệt đới Hưng Yên, T điều khiển xe môtô Yamaha Jupiter BKS 89H2-5299 đến khu vực xã TN xem nhà ai có sơ hở gì thì trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà anh H và phát hiện trước cửa nhà anh H có chiếc xe máy chằng thùng tôn phía sau, bên trong đựng trứng mà không có người trông coi nên T đã lén lút trộm cắp 01 túi lưới bên trong có 50 quả trứng vịt, loại trứng thường. Sau khi trộm cắp, T đi về Bến xe khách Hưng Yên và bán số trứng đã trộm cắp cho một người phụ nữ được 65.000 đồng.

Ngày 26/9/2020, anh Trần Đăng H đến Công an xã TN trình báo vụ việc gia đình anh 02 lần mất trộm trứng vịt và giao nộp 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh camera về đối tượng trộm cắp ngày 02/9/2020 và ngày 26/9/2020.

Quá trình điều tra đã thu giữ của của Phạm Mạnh T: 01 xe môtô Yamaha Jupiter BKS 89H2-5299 đã cũ; 01 mũ bảo hiểm; 65.000 đồng tiền mặt. Thu giữ của anh Nguyễn Duy K (là người cho T mượn xe môtô): 01 đăng ký xe môtô số 0075542 do Phòng CSGT Công an tỉnh Hưng Yên cấp ngày 20/10/2004 mang tên Lê Xuân H1, BKS 89H2-5299;

Ngày 12/10/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hưng Yên kết luận: Tổng 150 quả trứng vịt, loại trứng thường và 03 túi lưới đựng trứng có tổng trị giá là 393.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS-TPHY ngày 08/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên truy tố Phạm Mạnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nhất trí với cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nhất trí bồi thường theo yêu cầu của anh H; bị cáo không có nhu cầu nhận lại tài sản là 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng mà cơ quan điều tra đã thu giữ. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất.

Anh Nguyễn Duy K không có nhu cầu nhận lại chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter BKS 89H2-5299 đã cho bị cáo T mượn và nhất trí với kết luận của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hưng Yên về việc tách, không xử lý chiếc xe mô tô nêu trên trong vụ án này.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Phạm Mạnh T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Xuân H1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Trần Đăng H đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Việc anh H, anh H1 vắng mặt không làm trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt anh H, anh H1.

Về hành vi phạm tội và tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, hình ảnh dữ liệu trích xuất từ camera, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 02/9/2020 Phạm Mạnh T đã có hành vi lén lút trộm cắp 02 túi lưới, trong mỗi túi có 50 quả trứng vịt, loại trứng thường có trị giá 262.000 đồng và khoảng 09 giờ ngày 26/9/2020 Phạm Mạnh T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 túi lưới, trong túi có 50 quả trứng vịt, loại trứng thường có trị giá 131.000 đồng đều của anh Trần Đăng H ở Thôn ĐĐ, xã TN, thành phố Hưng Yên.

Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tài sản bị cáo trộm cắp ngày 02/9/2020 và ngày 26/9/2020 có tổng trị giá là 393.000 đồng (dưới 2.000.000đ), nhưng bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nên hành vi chiếm đoạt tài sản này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2019 bị cáo bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, nhưng tiền án này đã được sử dụng làm yếu tố định tội nên bị cáo không phải chịu tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; giá trị tài sản bị thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Năm 2012 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Năm 2016 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác và trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, có thể chất, tinh thần bình thường, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng bản thân lại không chịu lao động để làm ra của cải vật chất mà lại đi trộm cắp tài sản của người khác để lấy tiền tiêu sài. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là thể hiện thái độ coi thường kỷ cương pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự mới đủ tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe môtô Yamaha Jupiter BKS 89H2-5299 đã cũ và 01 đăng ký xe môtô số 0075542 do Phòng CSGT Công an tỉnh Hưng Yên cấp ngày 20/10/2004 mang tên Lê Xuân H1, BKS 89H2-5299 chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Hưng Yên đề nghị tách chiếc xe mô tô và giấy tờ liên quan để tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ; anh H1, anh K cũng không đề nghị giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với 01 mũ bảo hiểm, dạng mũ lưỡi trai, bằng nhựa màu đen có in hình, lôgô và dòng chữ CHENSEA. Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tại phiên tòa bị cáo không có nhu cầu, nguyện vọng nhận lại tài sản nêu trên do không còn giá trị sử dụng. Xét thấy bị cáo không có nhu cầu nhận lại tài sản, tài sản không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, cho tiêu hủy.

- Đối với số tiền 65.000 đồng bị cáo đã giao nộp đang được tạm giữ tại tài khoản của Công an thành phố Hưng Yên tại kho bạc Nhà nước ngày 05/11/2020 sẽ được đối trừ vào số tiền bị cáo phải bồi thường cho người bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Đăng H yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại là số trứng vịt bị cáo đã trộm cắp là chính đáng nên buộc bị cáo T phải bồi thường cho anh H giá trị tài sản đã trộm cắp theo kết luận của Hội đồng đình giá trong tố tụng hình sự là phù hợp với Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 170, 584, 585 của Bộ luật dân sự.

Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, áp dụng điều luật, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo bị xác định có tội và phải bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Phạm Mạnh T 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 07/1/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Mạnh T.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 170, 584, 585 của Bộ luật dân sự.

Bị cáo Phạm Mạnh T phải bồi thường cho anh Trần Đăng H số tiền 393.000 đồng. Số tiền 65.000 đồng bị cáo đã giao nộp (đang được tạm giữ tại tài khoản của Công an thành phố Hưng Yên tại kho bạc Nhà nước ngày 05/11/2020) được đối trừ vào số tiền bị cáo phải bồi thường cho anh H. Bị cáo còn phải bồi thường cho anh H số tiền 328.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh Trần Đăng H có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền bồi thường nêu trên, nếu bị cáo T không thi hành đúng nghĩa vụ bồi thường theo bản án này thì phải chịu lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào các Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, cho tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm, dạng mũ lưỡi trai, bằng nhựa màu đen có in hình, lôgô và dòng chữ CHENSEA đã qua sử dụng. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản như biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Hưng Yên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên, ngày 16/3/2021).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Mạnh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hà nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ