- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị Thu Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2021/HS-ST Ngày 12/01/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bảo Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Truyền và ông Trần Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đào Nhã Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 162/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2020 và Thông báo dời phiên tòa ngày 05 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
ĐOÀN THỊ THU TH, sinh năm 1974 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố 4, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Ch, sinh năm: 1943 và bà Tô Thị Th, sinh năm: 1938; có chồng là Đinh Xuân H và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2001.
Tiền sự: Không có.
Tiền án:
Ngày 12/11/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 10/02/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 13/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 17/4/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 01/11/2019.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/9/2020 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Khu phố 3, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Thu S, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Khu phố 8, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 28/9/2020, Đoàn Thị Thu Th đi đến tiệm tạp hóa của bà Nguyễn Thị H để mua đồ. Trong lúc bà Nguyễn Thị L (là mẹ của bà H) bán đồ cho Th, thấy sơ hở không chú ý quan sát nên Th đã lấy trộm 28 card điện thoại mệnh giá 100.000đ của các nhà mạng Viettel, Vinaphone, Mobifone với tổng giá trị là 2.800.000đ. Sau đó, Th mang số card điện thoại trên đến bán cho tiệm điện thoại “L” do bà Trần Thị Thu S làm chủ với giá 2.380.000đ. Tuy nhiên, bà S mới đưa trước cho Th số tiền 1.080.000đ và hẹn khi nào bán được card điện thoại sẽ trả số tiền còn lại. Số tiền bà S đưa, Th đã tiêu xài một phần và còn lại 417.000đ. Ngày 30/9/2020, Th đến Công an phường Bảo An tự thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình và giao nộp số tiền 417.000đ. Sau khi mua 28 card điện thoại của Th, bà S đã bán được 05 card với số tiền 500.000đ. Bà S đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 23 card điện thoại và số tiền 500.000đ.
Vật chứng của vụ án: 23 card điện thoại di động và số tiền 500.000đ Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị H. Số tiền 417.000đ Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trần Thị Thu S.
Cáo trạng số: 153/CT–VKSPR ngày 24/11/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm truy tố bị cáo Đoàn Thị Thu Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g khoản 2 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Thu Th từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Thị Thu Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 14 giờ ngày 28/9/2020, bị cáo Đoàn Thị Thu Th đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị H có tổng giá trị 2.800.000đ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, ngày 17/4/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/11/2019 nên chưa được xóa án tích. Vì vậy, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm truy tố về tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét bị cáo có nhân thân xấu vì đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra. Do đó cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình, đồng thời bị hại cũng có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét cho bị cáo.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị Thu Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị Thu Th 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/9/2020.
Về án phí: Bị cáo Đoàn Thị Thu Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, NVLQ; - VKSND TP. PR-TC; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - CQĐT Công an TP. PR-TC; - CQTHAHS Công an TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Sở Tư pháp tỉnh; - TAND tỉnh; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bảo Châu |