vanban.org

Bản án 07/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 03/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đình V, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1); điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vũ Đình V 5 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 16/6/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đình V, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2021/HS-ST
Ngày 03-3-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quang Luân.

2. Ông Hoàng Văn Bốn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Bà Vũ Phƣơng Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2020/TLST-HS, ngày 24 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 06/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

VŨ ĐÌNH V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/10/1996 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

- Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn T 1, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo.

- Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 09/12;

- Họ tên cha: Vũ Đình T, sinh năm 1972 (Đã chết);

- Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976;

- Anh, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ 02;

- Vợ, con: Chưa có

- Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/6/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt

+ Bị hại: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Thôn 5 M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt

+ Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Hoàng Văn Vũ

- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tuyên Quang. Có mặt

+ Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Vũ Đình V1, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn T 1, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

2. Anh Vũ Văn D, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn 5 M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

3. Anh Đào Duy T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

4. Anh Trần Xuân T, sinh năm 2000.

5. Anh Trần Trung Q, sinh năm 1993.

Cùng địa chỉ: Thôn T 2, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

6. Anh Nguyễn Phi Q, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

(Anh V, anh D, anh T, anh T, anh Q có mặt;

Anh Q vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt)

+ Những ngƣời làm chứng:

1. Chị Đào Hồng T, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

2. Anh Triệu Văn P, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Thôn 1 M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị T, anh P vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 19/4/2020, gia đình anh Vũ Đình V1, sinh năm 1994, trú tại thôn T 1, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang có tổ chức ăn uống, tham dự bữa cơm gồm có: Anh V1, vợ anh V1 là chị Triệu Thị T; em trai là Vũ Đình V, sinh năm 1996, ở cùng nhà với anh V1; anh Đào Duy T, sinh năm 1993, chị Đào Hồng T, sinh năm 1994, cùng trú tại thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang và anh Trần Trung Q, trú tại thôn T 2, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Đến khoảng 21 giờ, anh Q nhận được điện thoại của em trai là Trần Xuân T, sinh năm 2000, trú tại thôn T 2, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, T nói với Q là đang đi chơi cùng bạn tại xã M, huyện H thì bị một nhóm thanh niên chặn đường gây sự nên T gọi anh Q vào giải quyết. Nghe xong điện thoại của T, Q cùng T, V1 đi 01 xe mô tô đi trước; Vũ Đình V đi xuống bếp của gia đình cầm 01 con dao nhọn có chiều dài 18,8cm, bản dao chỗ rộng nhất là 1,3cm, đút vào túi quần sau rồi đi xe mô tô chở phía sau Đào Hồng T đi vào xã M. Trên đường đi do bị lạc đường nên V đi vào nhà anh Hoàng Văn C, sinh năm 1984, trú tại thôn 5 M, xã M, huyện H để hỏi đường thì xảy ra mâu thuẫn với anh C, anh C đã dùng tay đánh vào mặt V làm V bị chảy máu ở miệng, bị C đánh V và T đi ra khỏi nhà anh C khoảng 200 mét thì dừng lại, V gọi điện cho anh trai Vũ Đình V1 kể lại sự việc bị anh C đánh. Lúc này, Vũ Đình V1 cùng Đào Duy T, Trần Trung Q đã gặp T và hòa giải xong mâu thuẫn giữa T với nhóm thanh niên chặn đường gây gổ với T nên V1 cùng T, Q, T và một số người bạn của T đi đến chỗ V đang đứng đợi.

Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày gặp lại nhóm của Q, V dẫn những người trên đến nhà anh Hoàng Văn C để hỏi rõ nguyên nhân, lý do anh C đánh V, trên đường đến nhà anh C, V dùng tay trái cầm chuôi con dao nhọn và giấu con dao dọc theo chiều cổ tay đến cánh tay, khi vào nhà anh C thấy anh C đang cùng anh Vũ Văn D, sinh năm 1983, là em rể, trú cùng thôn với anh C và anh Triệu Văn P, sinh năm 1981, trú tại thôn 1 M, xã M, huyện H đang ngồi uống nước, V chỉ vào anh C và nói "thằng này lúc nãy nó đánh em", V1 nói "Sao mày lại đánh em tao", thấy có nhiều người đến anh C và anh D đứng dậy, V lao vào đấm anh C rồi cùng với V1, T, T xô đẩy anh C ra ngoài đường phía trước nhà anh C; Q ôm anh D ngăn không cho anh D đánh nhau. Trong lúc xô đẩy, rằng co, lôi kéo anh C, con dao V cầm trên tay đã cứa làm rách da ngực bên trái của anh C; khi anh C bị đẩy ngã xuống đường V, T, T tiếp tục dùng chân đá vào người C. Khi thấy anh C đang nằm ngửa trên đường và bực tức vì bị anh C đánh chảy máu mồm nên V đã cầm con dao nhọn mang theo đâm một nhát vào phần bụng bên trái anh C rồi bỏ chạy, anh C bị thương được người nhà đưa đến Trung tâm y tế điều trị.

Tại bản Kết luận giám định thương tích số 132/2020/TgT ngày 04/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang kết luận:

"1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tổn thương thủng đại tràng đã xử lý làm hậu môn nhân tạo: 43%;

- Khâu vết thương thận trái: 18%;

- Sẹo vết thương thành bụng trái: 2%; Sẹo vết thương thành ngực trái: 1%;

- Sẹo vết mổ: 3%; (ba) sẹo dẫn lưu mỗi sẹo 1%.

2. Cơ chế, vật gây thương tích:

- Vết thương thấu bụng, ngực là do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.

- Sẹo mổ và sẹo dẫn lưu là do can thiệp y tế.

3. Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y.

Áp dụng: Chương 4, mục IV, điểm 1.2.

Chương 5, mục I, điểm 9.

Chương 8, mục I, điểm 1 điểm 2 và 3.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 57% (Năm mươi bảy phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư./."

Trước cơ quan điều tra, Vũ Đình V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản thực nghiệm điều tra; kết luận giám định; vật chứng thu giữ; lời khai của bị hại; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 78/CT-VKSHY ngày 23/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Vũ Đình V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đình V tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Nội dung lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra.

Kết thúc phần hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Đình V về tội “Cố ý gây thương tích” như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1); các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đình V từ 5 năm đến 6 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 16/6/2020.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đề nghị HĐXX ghi nhận việc thỏa thuận bồi thường dân sự giữa bị cáo Vũ Đình V và bị hại anh Hoàng Văn C theo quy định của pháp luật.

- Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 Con dao bằng kim loại, màu đen, dài 18,8cm, phần lưỡi dao dài 12,5cm, bản dao chỗ rộng nhất 1,3cm, lưỡi dao có một cạnh sắc, một đầu nhọn, chuôi dao tròn dài 6,3cm, dao cũ đã qua sử dụng; 01 Con dao loại dao tư có kích thước dài cả chuôi 46cm, chuôi bằng gỗ, bản dao bằng kim loại dài 40cm, bản dao chỗ rộng nhất 6,6cm, mũi dao có một cạnh sắc, dao đã qua sử dụng; 01 Con dao loại dao bài có kích thước dài cả chuôi 36cm, chuôi bằng gỗ, bản dao bằng kim loại dài 24cm, bản dao chỗ rộng nhất 6,7cm, mũi dao có một cạnh sắc, dao đã qua sử dụng; Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Vũ Đình V nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Hoàng Văn C: Ông Hoàng Văn Vũ nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và điều luật áp dụng. Về hình phạt ông Vũ đề nghị HĐXX xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp nên ông đề nghị HĐXX xem xét; Về trách nhiệm bồi thường dân sự ông Vũ đề nghị HĐXX ghi nhận việc thỏa thuận bồi thường dân sự giữa bị cáo Vũ Đình V và bị hại anh Hoàng Văn C theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ 40 phút, ngày 19/4/2020, tại khu vực trước cửa nhà anh Hoàng Văn C, sinh năm 1984, trú tại thôn 5 M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo Vũ Đình V đã có hành vi cố ý gây thương tích (dùng dao nhọn đâm vào phần bụng bên trái và cứa rách da vùng ngực bên trái của anh Hoàng Văn C) gây tổn thương cơ thể đối với anh Hoàng Văn C với tổng tỷ lệ là: 57% (Năm mươi bảy phần trăm). Hành vi của bị cáo Vũ Đình V đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Vũ Đình V về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã có hành vi dùng dao nhọn đâm vào phần bụng bên trái và cứa rách da vùng ngực bên trái của anh Hoàng Văn C, gây tổn thương cơ thể đối với anh C với tổng tỷ lệ 57% là hành vi nguy hiểm đã xâm phạm đến sức khoẻ của anh C, đồng thời còn gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, bị cáo biết việc sử dụng dao nhọn là hung khí nguy hiểm đâm vào phần bụng bên trái anh C là nơi trọng yếu của cơ thể con người, làm tổn hại đến sức khỏe của anh C là sai và vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo Vũ Đình V thật nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo: Do bị hại anh Hoàng Văn C đã có hành vi dùng tay đánh vào mặt bị cáo làm bị cáo bị chảy máu ở miệng nên bị cáo đã dùng dao đâm anh C, gây tổn hại sức khỏe cho anh C, do vậy khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại. Về nhân thân của bị cáo trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, chưa vi phạm pháp luật nên khi lượng hình cũng cần phải xem xét cho bị cáo để lên mức án phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại; Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Vũ Đình V, Hội đồng xét xử xét thấy xử bị cáo với mức án khởi điểm như Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ pháp luật.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Hoàng Văn C: Ông Hoàng Văn Vũ đề nghị HĐXX xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp nên ông Vũ đề nghị HĐXX xem xét; Về trách nhiệm bồi thường dân sự ông Vũ đề nghị HĐXX ghi nhận việc thỏa thuận bồi thường dân sự giữa bị cáo V và bị hại anh Hoàng Văn C theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của ông Vũ phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nên được chấp nhận.

Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra và tại biên bản thỏa thuận bồi thường dân sự trước khi mở phiên tòa ngày 03/3/2021, bị hại anh Hoàng Văn C và bị cáo Vũ Đình V đã tự nguyện thỏa thuận, bị cáo Vũ Đình V có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Hoàng Văn C tổng số tiền là 150.000.000 đồng (bao gồm: Tiền bồi thường tổn hại sức khỏe và tổn thất về tinh thần, tiền thu nhập bị mất, tiền viện phí, tiền thuốc, tiền khám bệnh, tiền thuê xe...), trừ số tiền bị cáo đã bồi thường trước khi mở phiên tòa là 15.000.000 đồng. Nay bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh C số tiền là 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng).

Bị cáo Vũ Đình V và bị hại anh Hoàng Văn C đều đề nghị Tòa án ghi nhận về việc tự nguyện thỏa thuận về bồi thường dân sự trên.

Tại phiên tòa bị cáo và bị hại tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo Vũ Đình V tự nguyện bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại anh Hoàng Văn C tổng số tiền là 150.000.000 đồng (bao gồm: Tiền bồi thường tổn hại sức khỏe và tổn thất về tinh thần, tiền thu nhập bị mất, tiền viện phí, tiền thuốc, tiền khám bệnh, tiền thuê xe...), trừ số tiền đã bồi thường trước là 15.000.000 đồng. Nay bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh C số tiền là 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy sự thoả thuận giữa bị cáo Vũ Đình V và bị hại anh Hoàng Văn C về việc bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận đó theo quy định pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đã thu giữ: 01 Con dao bằng kim loại, màu đen, dài 18,8cm, phần lưỡi dao dài 12,5cm, bản dao chỗ rộng nhất 1,3cm, lưỡi dao có một cạnh sắc, một đầu nhọn, chuôi dao tròn dài 6,3cm, dao cũ đã qua sử dụng; 01 Con dao loại dao tư có kích thước dài cả chuôi 46cm, chuôi bằng gỗ, bản dao bằng kim loại dài 40cm, bản dao chỗ rộng nhất 6,6cm, mũi dao có một cạnh sắc, dao đã qua sử dụng; 01 Con dao loại dao bài có kích thước dài cả chuôi 36cm, chuôi bằng gỗ, bản dao bằng kim loại dài 24cm, bản dao chỗ rộng nhất 6,7cm, mũi dao có một cạnh sắc, dao đã qua sử dụng;

Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với 01 con dao bằng kim loại, màu đen, dài 18,8cm đây là công cụ mà bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 con dao tư và 01 con dao bài đây là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng và anh Hoàng Văn C không yêu cầu lấy lại nên tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Trong vụ án, khi thấy anh Hoàng Văn C bị Vũ Đình V dùng dao đâm vào bụng, anh Vũ Văn D đã chạy vào nhà anh Chiến, 02 tay cầm hai con dao đuổi nhóm của V để ngăn chặn không cho nhóm của V tiếp tục đánh anh C, anh D không nhằm gây thương tích cho ai và không chém ai. Khi nhóm của V đã bỏ đi anh D quay lại thấy xe mô tô BKS 22B1-032.50 của anh Nguyễn Phi Q, là bạn đi cùng T, anh Q đứng ngoài xem không tham gia đánh anh C, anh D đã dùng dao chém vào đầu chiếc xe trên, dùng tay tát anh Q và dùng ấm nước đập vào phần trán bên phải của anh Đào Duy T. Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 19/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: tổng trị giá tài sản bị thiệt hại đối với xe mô tô 22B1-032.50 tại thời điểm tháng 4/2020 là 1.123.221 đồng, anh D đã bồi thường cho anh Q thiệt hại trên; anh Nguyễn Phi Q và anh Đào Duy T đã có đơn từ chối giám định thương tích nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với anh Vũ Văn D về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản và hành vi Cố ý gây thương tích. Ngày 30/9/2020, Công an huyện Hàm Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 612/QĐ-XPHC đối với Vũ Văn D bằng hình thức phạt tiền 4.000.000 đồng. Tại phiên tòa anh Vũ Văn D, anh Đào Duy T và tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Nguyễn Phi Q không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với anh Vũ Đình V1, anh Đào Duy T, anh Trần Xuân T có hành vi dùng tay chân đấm đá vào người anh Hoàng Văn C nhưng không gây ra thương tích cho anh C. Ngày 30/9/2020 Công an huyện Hàm Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 615/QĐ-XPHC, số 616/QĐ-XPHC và số 614/QĐ-XPHC đối với Vũ Đình V1, Đào Duy T và Trần Xuân T bằng hình thức phạt tiền 2.200.000 đồng/người nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Hoàng Văn C, có hành vi dùng tay đánh vào mặt bị cáo Vũ Đình V, tuy nhiên bị cáo V chỉ bị thương tích nhẹ không đáng kể. Ngày 30/9/2020, Công an huyện Hàm Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 613/QĐ-XPHC đối với anh C về hành vi xâm hại sức khỏe người khác bằng hình thức phạt tiền 2.200.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong giai đoạn điều tra bị cáo có nhờ anh Vũ Đình V1 bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng. Tại phiên tòa anh V không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn lại số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

- Về án phí dân sự có giá ngạch: Do bị cáo Vũ Đình V và bị hại anh Hoàng Văn C đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường dân sự trước khi mở phiên tòa và cùng đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận trên nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự có giá ngạch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đình V, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1); điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt: Bị cáo Vũ Đình V 5 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 16/6/2020.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; các Điều 357, 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Vũ Đình V và bị hại anh Hoàng Văn C như sau: Bị cáo Vũ Đình V có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Hoàng Văn C tổng số tiền là 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu đồng), trừ đi số tiền bị cáo đã tự nguyện bồi thường trước khi mở phiên tòa là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Bị cáo Vũ Đình V phải bồi thường tiếp cho anh Hoàng Văn C số tiền là 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bị cáo Vũ Đình V chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thánh toán theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 Con dao bằng kim loại, màu đen, dài 18,8cm, phần lưỡi dao dài 12,5cm, bản dao chỗ rộng nhất 1,3cm, lưỡi dao có một cạnh sắc, một đầu nhọn, chuôi dao tròn dài 6,3cm, dao cũ đã qua sử dụng; 01 Con dao loại dao tư có kích thước dài cả chuôi 46cm, chuôi bằng gỗ, bản dao bằng kim loại dài 40cm, bản dao chỗ rộng nhất 6,6cm, mũi dao có một cạnh sắc, dao đã qua sử dụng; 01 Con dao loại dao bài có kích thước dài cả chuôi 36cm, chuôi bằng gỗ, bản dao bằng kim loại dài 24cm, bản dao chỗ rộng nhất 6,7cm, mũi dao có một cạnh sắc, dao đã qua sử dụng;

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Hàm Yên đã giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Hàm Yên ngày 24 tháng 11 năm 2020).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Vũ Đình V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

"Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Cỡ chữ