vanban.org

Bản án 07/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị Thái G được ly hôn với ông Trần Thanh H.

Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Thái G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên Trần Ngân Phương M, sinh ngày 24/12/2004; Trần Ngân Phương T1, sinh ngày 13/6/2008; Trần Lê Minh T2, sinh ngày 14/04/2011. Ông Trần Thanh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà Lê Thị Thái G không yêu cầu.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Thái G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông Trần Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị Thái G được ly hôn với ông Trần Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 27/01/2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình và bà Nguyễn Lê Anh Thư

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang

- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 514/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/12/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 11/01/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thái G, sinh năm 1985 (có mặt).

Nơi cư trú: Số 94 đường N, khu phố 1, phường M, Tp. P, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1982 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Số 124/37/6 đường N, khu phố 1, phường T, Tp. P, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/9/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Thái G trình bày:

Bà Lê Thị Thái G và ông Trần Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường T, TP. P, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52 ngày 01/4/2004. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ chồng, sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Đến đầu năm 2015, bà và ông H bắt đầu có mâu thuẫn do ông H làm ăn thua lỗ nên kinh tế khó khăn. Vợ chồng thường xuyên cãi vả. Đến tháng 9/2015, do không thể tiếp tục chung sống như vậy nữa nên bà đã dẫn con dọn về nhà cha mẹ ruột sống tại khu phố 1, phường M, còn ông H vẫn sống tại nhà cha mẹ ở phường T.

Từ tháng 9/2015 đến nay bà và ông H không liên lạc, không gặp gỡ hay có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Gia đình 2 bên đều có khuyên can vợ chồng quay lại sống nhưng bà và ông H vẫn không quay lại sống với nhau. Bà xác định đã hết tình cảm với ông Hiệp nên mong muốn được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Trần Ngân Phương M, sinh ngày 24/12/2004; Trần Ngân Phương T1, sinh ngày 13/6/2008; Trần Lê Minh T2, sinh ngày 14/04/2011. Nếu được ly hôn bà xin nuôi cả 3 cháu và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Trần Thanh H quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Hiệp vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng.

Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lê Thị Thái G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Trần Thanh H. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại phường T, TP. P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - Tháp Chàm theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - Tháp Chàm đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H đều vắng mặt. Điều này chứng tỏ ông H đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

Bà Lê Thị Thái G và ông Trần Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường T, TP. P, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52/2004 ngày 01/4/2004, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà G vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Về quan hệ hôn nhân:

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.

Tuy nhiên, do làm ăn thua lỗ, kinh tế khó khăn nên bà G và ông H có mâu thuẫn. Từ năm 2015 đến nay bà G và ông H không còn chung sống với nhau, mỗi người sống một nhà riêng và cũng không còn liên hệ, gặp gỡ hay hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tình trạng mâu thuẫn của bà G và ông H phù hợp với lời trình bày của mẹ ruột ông H là bà Vũ Thị T và Đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường M do nguyên đơn cung cấp.

Ông H biết việc bà G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông H không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà G và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G.

Về con chung: Vợ chồng bà có 03 con chung tên Trần Ngân Phương M, sinh ngày 24/12/2004; Trần Ngân Phương T1, sinh ngày 13/6/2008; Trần Lê Minh T2, sinh ngày 14/04/2011. Bà G có yêu cầu trực tiếp nuôi 03 con, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cả 03 cháu từ trước đến nay đều sống với bà G và các cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Bà G đang làm nghề buôn bán, thu nhập mỗi tháng 8.000.000đồng, có khả năng để nuôi con nên Hội đồng xét xử giao 03 cháu Trần Ngân Phương M, Trần Ngân Phương T1, Trần Lê Minh T2 cho bà Lê Thị Thái G trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà G không có yêu cầu.

Tài sản chung và nợ chung: Bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bà G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị Thái G được ly hôn với ông Trần Thanh H.

2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Thái G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên Trần Ngân Phương M, sinh ngày 24/12/2004; Trần Ngân Phương T1, sinh ngày 13/6/2008; Trần Lê Minh T2, sinh ngày 14/04/2011. Ông Trần Thanh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà Lê Thị Thái G không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Lê Thị Thái G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Lê Thị Thái G đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0022897 ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Bà Lê Thị Thái G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Cỡ chữ