- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Mơ Liêm"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Hồng M được ly hôn anh Lê Thanh L.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2021/HNGĐ-ST Ngày: 28 tháng 9 năm 2021 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Bá Sơn và ông Lê Xuân Hường
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Danh Dũng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện VKSND huyện H tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Thùy Linh, Kiểm sát viên.
Vào hồi 7 giờ 30 phút ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 58/2021/TLST-HNGĐ, ngày 29/7/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/QĐST – HNGĐ ngày 10/9/2021, giữa:
*Nguyên đơn: Chị Phạm Hồng M, Sinh năm: 1989. HKTT: Thôn Trường X, xã Đỉnh B, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Chỗ ở hiện nay: Thôn Phú M, xã Tân Mỹ H, huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Nhân viên y tế. (có mặt)
* Bị đơn: Anh Lê Thanh L, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Thôn Trường X, xã Đỉnh B, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Phạm Hồng M trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Phạm Hồng M và anh Lê Thanh L kết hôn với nhau vào ngày 13/7/2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạch Đ(nay là xã Đỉnh B), huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình đi đến hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Thôn Trường X, xã Đỉnh B, huyện H đến năm 2018 thì xẩy ra mâu thuẫn, sau đó hai vợ chồng tự giảng hòa, cùng nhau vun vén để chăm sóc con chung. Đến tháng 8/2020, vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn khi anh L có hành vi đánh đập, xúc phạm chị M và mẹ ruột của chị M khi mẹ chị M đến ở cùng vợ chồng để trông con thứ hai. Sau đó, anh L còn đuổi mẹ con chị ra khỏi nhà. Vì vậy, chị M đã đưa con thứ hai về nhà mẹ ruột tại Hương Sơn để sinh sống từ tháng 8 năm 2020 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh L.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Đăng Gia H, sinh ngày 07/01/2011 và cháu Lê Đăng Gia K, sinh ngày 06/7/2019. Nguyện vọng của chị M sau khi ly hôn là được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lê Đăng Gia K; Còn cháu Lê Đăng Gia H đã trên 10 tuổi, cháu có nguyện vọng ở với ai thì chị cũng tôn trọng quyền của cháu. Nếu cháu có nguyện vọng được ở với chị thì chị cũng nhất trí chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung, yêu cầu anh Lê Thanh L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000đ.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo triệu tập đến làm việc nhưng anh L đều không có mặt; Sau khi trực tiếp đến nhà anh L để làm việc, lấy lời khai thì anh L cũng thừa nhận tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng và vấn đề con chung như chị M trình bày là đúng, tuy nhiên anh không nhất trí ly hôn, muốn được đoàn tụ, do đó anh không đến làm việc theo thông báo của Tòa án và không ký tên vào các văn bản do Tòa án lập. Việc giải quyết ly hôn hay không là do Tòa căn cứ quy định pháp luật, còn con cái muốn sống với ai đó là quyền của các con, anh không có ý kiến gì.
Qua xác minh tại chính quyền xã Đỉnh B về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị M, anh L và được phản ánh: Chị Phạm Hồng M và anh Lê Thanh L kết hôn với nhau vào ngày 13/7/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạch Đ(nay là xã Đỉnh B), huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị M và anh L chung sống với nhau tại Thôn Trường X, xã Đỉnh B, huyện H, Hà Tĩnh. Hơn 1 năm trước, chị M có đến UBND xã hỏi thủ tục ly hôn nhưng sau đó, không thấy chị M hay anh L có đơn đến UBND xã. Đến tháng 8/2021, khi nhận được Thông báo làm việc do Tòa án nhân dân huyện H gửi đến UBND xã Đỉnh B để tống đạt cho anh Lê Thanh L thì chính quyền mới biết chị M đã làm đơn ly hôn gửi đến Tòa án. Sau khi trực tiếp làm việc với anh Lê Thanh L thì được biết hiện nay, chị M đã đưa cháu thứ hai là Lê Đăng Gia K về ở nhà bố mẹ đẻ ở xã Tân Mỹ H, huyện Hương S, không ở trong nhà cùng với anh Lê Thanh L. Còn cháu Lê Đăng Gia H đang sinh sống cùng anh L ở Thôn Trường X, xã Đỉnh B.
Tại buổi làm việc ngày 27/8/2021, cháu Lê Đăng Gia H đã nộp cho Tòa án đơn nguyện vọng xin được ở với bố là anh Lê Thanh L.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến tại phiên toà hôm nay: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 49, 51 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, trình tự thủ tục thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ kịp thời các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; có bản tự khai thể hiện đầy đủ ý kiến của mình về các vấn đề liên quan của vụ án. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nhưng đã biết được các nội dung liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nhưng không có lý do chính đáng nên Tòa án đủ căn cứ giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 24, khoản 1 Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội xử:
+ Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Hồng M về việc ly hôn anh Lê Thanh L.
+ Về con chung: Giao con chung là Lê Đăng Gia K, sinh ngày 06/7/2019 cho chị Phạm Hồng M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Giao con chung là cháu Lê Đăng Gia H, sinh ngày 07/01/2011 cho anh Lê Thanh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cấm, cản trở;
+ Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn; bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Đỉnh B, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã có mặt và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập nhưng đã được thông tin đầy đủ về nội dung yêu cầu khởi kiện, được tiếp cận toàn bộ các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp; việc bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập không có lý do chính đáng nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật. Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ nhất vào ngày 10/9/2021 và phiên tòa lần thứ 2 vào ngày 28/9/2021 nhưng cả hai lần bị đơn đều không có mặt không có lý do chính đáng. Do đó, đủ căn cứ xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Hồng M và anh Lê Thanh L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc, đảm bảo điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L có hành vi đánh chị M và mẹ ruột của chị M khi mẹ chị M đến ở cùng để trông con thứ hai của vợ chồng. Từ tháng 8 năm 2020 đến nay, chị M đã đưa cháu thứ hai là Lê Đăng Gia K về sinh sống tại nhà bố mẹ chị M ở xã Tân Mỹ H, huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để các đương sự hàn gắn quan hệ hôn nhân, bị đơn yêu cầu được đoàn tụ nhưng đều không có mặt để tham gia hòa giải cho thấy bản thân bị đơn cũng không nỗ lực để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã Đỉnh B cũng khẳng định mâu thuẫn vợ chồng phát sinh đã lâu, hiện nay chị M và con trai thứ hai không còn chung sống với anh L tại xã Đỉnh B nữa.
Hội đồng xét xử thấy rằng điều kiện để xây dựng gia đình hạnh phúc phải xuất phát từ hai phía, nay chị M kiên quyết xin ly hôn, không còn tình cảm với anh Lê Thanh L nữa, anh L mặc dù muốn đoàn tụ nhưng không đưa ra được giải pháp nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Mặt khác, trên thực tế vợ chồng cũng đã sống ly thân hơn 01 năm nay, thiếu tình cảm yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và không tìm được tiếng nói chung trong xây dựng hạnh phúc gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã kiên trì tổ chức hòa giải nhiều lần với mong muốn tạo điều kiện để các bên đương sự hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Hồng M về việc xin ly hôn anh Lê Thanh L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Đăng Gia H, sinh ngày 07/01/2011 và cháu Lê Đăng Gia K, sinh ngày 06/7/2019. Sau khi ly hôn,chị M yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lê Đăng Gia K và thống nhất để cháu Lê Đăng Gia H sống cùng bố như nguyện vọng của cháu. Nếu cháu thay đổi nguyện vọng được sống cùng chị, chị sẽ trực tiếp chăm sóc hai con và yêu cầu anh Lê Thanh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000đ.
Bản thân anh L không trực tiếp đến Tòa án để làm việc nhưng qua xác minh tại xã Đỉnh B và biên bản xác minh (mặc dù anh L không ký) cũng phản ánh, chị M đã đưa cháu Gia Khánh về ở tại nhà mẹ đẻ của chị M tại xã Tân Mỹ H, huyện Hương S. Còn cháu Gia Huy đang sinh sống với anh L và học tại trường tiểu học ở xã Đỉnh B. Các con muốn sống với ai đó là quyền của các con, anh không có ý kiến gì.
Xét điều kiện hoàn cảnh thực tế hiện nay của chị M và anh L, nhằm đảm bảo điều kiện nuôi con phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần, điều kiện học tập cũng như nguyện vọng của con chung. Cần giao cháu Lê Đăng Gia K cho chị Phạm Hồng M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Lê Đăng Gia H cho anh Lê Thanh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cấm, cản trở;
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Phạm Hồng M là người khởi kiện nên phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm thep quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 điều 39, Điều 91, Điều 96, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 235; Điều 266 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; 57; 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Hồng M được ly hôn anh Lê Thanh L.
2. Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung là Lê Đăng Gia K, sinh ngày 06/7/2019 cho chị Phạm Hồng M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Giao con chung là cháu Lê Đăng Gia H, sinh ngày 07/01/2011 cho anh Lê Thanh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cấm, cản trở;
3. Về án phí: Chị Phạm Hồng M phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị M đã nộp theo biên lai số 0003648, ngày 29/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Hồng M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Lê Thanh L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện H; - Chi cục THA Dân sự huyện H; - UBND xã Đỉnh B (để xóa đăng ký kết hôn); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thanh Huệ |