vanban.org

Bản án 07/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp nuôi con của anh La Xuân H.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh La Xuân H ly hôn với chị Sùng Thị H1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: La Xuân H - BĐ: Sùng Thị H1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp nuôi con của anh La Xuân H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢN BẠ
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 17/8/2021
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đào Thị Hà;

2. Ông Vũ Văn Học;

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hữu Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Lỷ Xuân – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2021 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2021/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh La Xuân H, sinh năm:1988

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Sùng Thị H1, sinh năm: 1992

Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh La Xuân H trình bày: Anh và chị Sùng Thị H1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Vợ chồng chung sống hạnh phúc bên nhau, tuy nhiên do anh thường hay đi làm thuê tại các xã giáp biên giới giữa Việt Nam – Trung Quốc, chị H1 ở nhà có phát sinh quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, đến tháng 10 năm 2013 anh về nhà để ổn định cuộc sống gia đình thì khi anh về khoảng 01 tuần thì chị H1 tự ý bỏ nhà đi không biết lý do gì cho đến tháng 11 năm 2015 chị H1 quay về tiếp tục chung sống với anh được khoảng hơn hai tháng thì chị H1 lại bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay, anh H và gia đình đã đi tìm nhiều lần ở nhiều nơi nhưng không thấy, không biết hiện nay chị H1 ở đâu. Anh H đã yêu cầu Tòa án tuyên bố chị H1 mất tích để giải quyết việc ly hôn, ngày 26/3/2021 Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang đã ra quyết định tuyên bố chị Sùng Thị H1 mất tích. Nay anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Sùng Thị H1.

Về con chung: Anh H và chị H1 có 01 con chung tên là: La Bình D, sinh ngày 09/08/2012. Từ khi chị H1 bỏ nhà đi biệt tích, anh H phải một mình chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Khi ly hôn anh H xin được trực tiếp nuôi cháu D. Không yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Bị đơn chị Sùng Thị H1, vắng mặt. Ngày 26/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ đã tuyên bố chị Sùng Thị H1 mất tích, đến nay chị H1 không có mặt tại nơi cư trú, cũng không có tin tức gì về chị Sùng Thị H1.

Tại phiên tòa, anh La Xuân H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ:

Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa và tại phiên tòa, đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53; khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 6; điểm a khoản 1 điều 24; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu,miễn,giảm,thu,nộp,quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho anh H ly hôn với chị H1; giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung; Anh H phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Việc anh La Xuân H khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Sùng Thị H1, có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn T xã, huyện Q, tỉnh Hà Giang là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầu của anh H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.

[ 2] Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án: Đây là vụ án xin ly hôn các đương sự yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân. Như vậy, đủ căn cứ xác định quan hệ tranh chấp là Ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS năm 2015 và Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nội dung vụ án:

Xét về yêu cầu xin ly hôn của anh La Xuân H: Anh La Xuân H và chị Sùng Thị H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của anh H và chị H1 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2013 thì xảy ra mâu thuẫn chị H1 bỏ nhà đi, đến tháng 11 năm 2015 thì chị H1 quay về tiếp tục chung sống cùng anh La Xuân H được 02 tháng, đến tháng 01 năm 2016 thì không hiểu vì lý do gì chị H1 bỏ nhà đi biệt tích, từ đó đến nay không có tin tức gì. Anh H đã yêu cầu Tòa án tuyên bố chị H1 bị mất tích, Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang đã thực hiện trình tự tố tụng và thông báo tìm kiếm chị H1 nhưng không có kết quả, không có thông tin gì về chị H1. Ngày 26/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Q đã ra quyết định tuyên bố chị Sùng Thị H1 mất tích, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, cuộc sống chung giữa anh H và chị H1 không còn tồn tại, anh H yêu cầu xin ly hôn với chị H1 là chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H, cho anh H được ly hôn với chị Sùng Thị H1.

Về con chung: Anh La Xuân H và chị Sùng Thị H1 có 01 con chung tên là: La Bình D, sinh ngày 09/8/2012. Xét thấy, chị Sùng Thị H1 biệt tích từ năm 2016 cho đến nay, không có tin tức xác thực về chị H1 ở đâu, nên không giao trách nhiệm nuôi con hay cấp dưỡng nuôi con được. Từ khi chị H1 biệt tích, anh H đã làm tốt việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu La Bình D, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt. Vì vậy, giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu La Bình D là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, công nợ chung: Anh H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp nuôi con của anh La Xuân H.

1. Về quan hệ hôn nhân:

Xử cho anh La Xuân H ly hôn với chị Sùng Thị H1.

2. Về con chung:

Giao cho anh La Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu La Bình D, sinh ngày 09/8/2012 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Sùng Thị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.

3. Tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết

4. Về án phí: Anh La Xuân H phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số BB/2013/05216 ngày 22/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Hà Giang.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho anh La Xuân H biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Sùng Thị H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ