vanban.org

Bản án 07/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao cháu Đoàn Lê Hải Đ, sinh ngày 19/09/2017 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Giao cháu Đoàn Lê Hải Đ, sinh ngày 19/09/2017 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Số: 07/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 02/02/2021
V/v: Thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau ly hôn, cấp dưỡng nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Xuân Tỵ.

2. Ông Cầm Văn Nam

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung.

Hôm nay, ngày 02 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 362/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020, về tranh chấp "Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con ", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Hoàng Xuân T, sinh năm 1983

Địa chỉ nơi cư trú: Hẻm 62 đường L, phường L, thành phố B, tỉnh L. (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Đoàn Anh L, sinh năm 1966

Địa chỉ nơi cư trú: Hẻm 62 đường L, phường L, thành phố B, tỉnh L. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/09/2020, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Hoàng Xuân T trình bày:

Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 212/2020/QĐST – HNGĐ ngày 27/07/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc thì bà và ông Đoàn Anh L thống nhất giao con chung tên Đoàn Lê Hải Đ, sinh ngày 19/07/2007 cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; giao con Đoàn Ngọc Minh C, sinh ngày 02/01/2012 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Bà T và ông L có đủ điều kiện nuôi con, không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên sau khi có quyết định cháu Đoàn Lê Hải Đ không muốn ở cùng với bố, khi cháu ở cùng bố thì thường xuyên bị bố gây áp lực về mặt tinh thần, đồng thời từ đó đến nay ông L thường xuyên bận công việc vắng nhà nên không có thời gian lo cho cháu Đ, bà là người trực tiếp chăm sóc cho cháu Đ, do đó bà đề nghị Tòa án giao cháu Đ cho bà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi cháu Đ mỗi tháng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) đến khi con thành niên.

Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Đoàn Anh L trình bày: Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 212/2020/QĐST – HNGĐ ngày 27/07/2020 ông là người được giao trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Đoàn Lê Hải Đ, từ khi ly hôn đến nay ông vẫn chăm sóc nuôi dưỡng cháu Đ, nên nay bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ thì ông không đồng ý do bà T không có đủ điều kiện nuôi con, không có công ăn việc làm ổn định. Đối với việc bà T yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu Đ mỗi tháng 4.000.000đ ông không đồng ý do ông cũng có nguyện vọng được nuôi cháu Đ.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lê Hoàng Xuân T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Đoàn Anh L vẫn giữ ý kiến không có thay đổi gì khác.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong qúa trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án như sau: thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Về nội dung vụ án: đề nghị giao cháu Đoàn Lê Hải Đ, sinh ngày 19/07/2007 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Đăng mỗi tháng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Hoàng Xuân T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn với ông Đoàn Anh L, hiện cư trú tại hẻm 62 đường L, phường L, thành phố B, tỉnh L. Do vậy, xác định đây là tranh chấp “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con” theo khoản 3, khoản 5 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Đoàn Lê Hải Đ, sinh ngày 19/07/2007 của bà T thấy rằng cháu Đoàn Lê Hải Đ có nguyện vọng ở với mẹ, qua xác minh tại địa phương được biết từ khi bà T và ông L ly hôn đến nay thì bà T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Đ, ông L bận công việc nên không có thời gian chăm sóc cháu Đ. Do đó xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Đoàn Lê Hải Đ, sinh ngày 19/07/2007 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng

Đối với việc bà T yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000đ, trong quá trình giải quyết vụ án ông L đồng ý nhưng tại phiên tòa ông không đồng ý do ông cũng có nguyện vọng nuôi cháu Đ. Xét thấy ông L khai một mùa buôn bán bơ và sầu riêng (trong thời gian 07 tháng) ông có thu nhập khoảng 200.000.000đ và ông còn có các nguồn thu nhập khác từ việc làm vườn, có khả năng cấp dưỡng nuôi con do đó để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt của con, buộc ông L cấp dưỡng nuôi cháu Đ mỗi tháng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) là có căn cứ nên chấp nhận.

. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

. Về án phí: Ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Giao cháu Đoàn Lê Hải Đ, sinh ngày 19/09/2017 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông Đoàn Anh L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Đ mỗi tháng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Đ thành niên.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự

3. Về án phí: Buộc ông Đoàn Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Hoàn trả cho bà Lê Hoàng Xuân T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng theo biên lai thu số AA/2016/0018579 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a, điều 7b và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ