- Tranh chấp gì? án dân sự — "mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2021/DS-ST Ngày 12/8/2021 V/v tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Thạo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Việt và bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Như Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2021/TLST-DS ngày 27 tháng 01 năm 2021, về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2021/QĐXXST-DS ngày 13/7/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2021/QĐST-DS ngày 02/8/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1/ Ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1964 (vắng mặt)
2/ Bà Hồ Thị L, sinh năm 1967 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn Thái Hiệp, xã Hồng Thái, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Ông Nguyễn Ngọc Th ủy quyền cho bà Hồ Thị L theo văn bản được công chứng ngày 05/02/2021.
-Bị đơn:
1/ Anh Lê Minh Th, sinh năm 1984 (vắng mặt)
2/ Chị Phạm Thị Diễm D, sinh năm 1987 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Khu phố Lương Tây, thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – Ông Nguyễn Ngọc Th và bà Hồ Thị L trình bày:
Từ năm 2031 đến 2017 vợ chồng anh Lê Minh Th và chị Phạm Thị Diễm D có mua hàng nông sản là lúa và khoai mì của vợ chồng bà, lúc đầu có nợ 400.000.000 đồng, nhưng đã trả dần đến ngày 19/11/2017 thì kết sổ lại còn nợ 245.000.000 đồng. Vợ chồng bà thấy vợ chồng ông Thương có thiện chí trả nợ nên vào ngày 24/11/2017 tiếp tục bán lúa và khoai mì cho vợ chồng ông Thương với số tiền 88.000.000 đồng. Tổng cộng hiện nay vợ chồng ông Thương còn nợ của vợ chồng bà là 333.000.000 đồng. Vợ chồng bà đã nhiều lần đòi nhưng vợ chồng ông Thương cũng không chịu trả. Nay, vợ chồng bà yêu cầu vợ chồng ông Thương phải thanh toán hết số tiền còn nợ cho vợ chồng bà là 333.000.000 đồng. Vợ chồng bà không yêu cầu tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ và kể cả tiền lãi trong giai đoạn thi hành án.
Bị đơn – Chị Phạm Thị Diễm D trình bày: Từ năm 2013 đến năm 2017 chị có mua nông sản của vợ chồng ông Thanh và bà có trả dần đến năm 2019 thì không trả nữa. Hiện nay, chị còn thiếu vợ chồng ông Thanh tổng cộng 333.000.000 đồng. Việc mua bán này thì lợi nhuận thu được chị dùng vào việc chi tiêu trong gia đình và nuôi con, giữa chị và anh Thương mỗi người tự làm kinh tế riêng nên nợ này chị có trách nhiệm một mình với ông Nguyễn Ngọc Th và bà Hồ Thị L. Nay, ông Nguyễn Ngọc Th và bà Hồ Thị L yêu cầu vợ chồng chị thanh toán số tiền 333.000.000 đồng thì chị hoàn toàn đồng ý, nhưng không biết ý kiến của anh Thương như thế nào.
Tại bản tự khai và biên bán lấy lời khai, anh Lê Minh Th trình bày:
Anh hoàn toàn biết việc kinh doanh của vợ là chị Phạm Thị Diễm D và biết chị Dung có làm ăn mua bán với vợ chồng ông Thanh và bà Loan, nhưng không biết rõ biết rõ lợi nhuận và việc chị Dung sử dụng tiền thu nhập được vào việc gì. Đồng thời anh Thương cũng xác định anh làm nghề lái xe và thu nhập của anh chỉ phục vụ cho nhu cầu của anh chứ không phụ giúp chị Dung trong việc chăm lo cho các con của anh và việc trang trải cuộc sống gia đình. Anh Thương khẳng định đây là nợ riêng của vợ anh với vợ chồng ông ông Thanh và bà Loan nên anh không chịu trách nhiệm trả khoản nợ này.
*Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và có đơn đề ngị xét xử vắng mặt, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Đồng thời đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 116, Điều 430, khoản 3 Điều 440 Bộ luật dân sự; Điều 27, Điều 30, Điều 37 của luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 333.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét yêu cầu và ý kiến của các bên đương sự; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền mua nông sản là 333.000.000 đồng, nên được xác định là tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có đơn khởi kiện đối với bị đơn. Bị đơn có nơi tại khu phố Lương Tây, thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Minh Th đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định.
. Về nội dung:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Từ năm 2013 đến năm 2017 chị Phạm Thị Diễm D là vợ của anh Lê Minh Th có mua nông sản là lúa và khoai mì của vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Th và bà Hồ Thị L và có nợ một số tiền nhưng đã thanh toán dần đến năm 2019 thì còn nợ lại số tiền 333.000.000 đồng. Tuy, việc mua bán không được thể hiện dưới dạng hợp đồng bằng văn bản, nhưng được đương sự thừa nhận nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì phía nguyên đơn không cần phải chứng minh.
Trong vụ án này, anh Lê Minh Th cho rằng việc mua bán chỉ có vợ của anh là chị Phạm Thị Diễm D trực tiếp tham gia giao dịch với vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Th và bà Hồ Thị L anh không liên quan, nhưng anh cũng thừa nhận biết việc mua bán này và cũng xác định anh không có đóng góp gì cho chị Dung để nuôi con, thu nhập của anh có được thì anh tự sử dụng cho nhu cầu của anh. Chị Phạm Thị Diễm D khẳng định lợi nhuận thu được từ việc mua bán này chị Dung sử dụng vào mục đích chi tiêu cho gia đình và nuôi con, đồng thời chị Dung cũng đề nghị tự chịu trách nhiệm về khoản nợ này đối với nguyên đơn, nhưng nguyên đơn không chấp nhận. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 27, khoản 1 Điều 30 và khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng phải có trách nhiệm liên đới với nhau trong việc thực hiện các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho gia đình. Xét thấy, việc việc mua bán và thu nhập từ việc mua bán của chị Dung nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu cần thiết cho gia đình và chi phí cho việc chăm sóc các con. Đây được xem là nhu cầu thiết yếu và cần thiết cho gia đình, anh Thương cho rằng việc này là việc riêng của chị Dung và buộc chị Dung tự chịu trách nhiệm riêng đối với khoản nợ này là không có cơ sơ nên không được chấp nhận. Do đó, anh Lê Minh Th và chị Phạm Thị Diễm D phải chịu trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ 333.000.000 đồng này.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận.
Đối với tiền lãi: Do nguyên đơn không yêu cầu tính lãi trong thời gian bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ và cũng không yêu cầu tính lãi trong giai đoạn thi hành án nên HĐXX không xét.
. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 430, khoản 3 Điều 440 Bộ luật dân sự; Điều 27, Điều 30, Điều 37 của luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1/ Buộc anh Lê Minh Th và chị Phạm Thị Diễm D phải thanh toán cho ông Nguyễn Ngọc Th và bà Hồ Thị L số tiền 333.000.000 (Ba trăm ba mươi ba triệu) đồng.
2/ Về tiền lãi: Ông La Xuân Hải và bà Phạm Thị Chín không yêu cầu giải quyết.
3/ Về án phí: Anh Lê Minh Th và chị Phạm Thị Diễm D phải chịu 16.650.000 (Mười sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho ông Nguyễn Ngọc Th và bà Hồ Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.325.000 (Tám triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001574 ngày 26/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/8/2021). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B.Bình; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - THADS huyện B.Bình; - Đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Minh Thạo |