vanban.org

Bản án 07/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 28/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phạm Nam D phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Phạm Nam D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28/4/2020). Riêng những người có quyền kháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phạm Nam D, phjam tội hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phạm Nam D phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỘI AN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07/2020/HSST
Ngày 28- 04- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhạn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Viết Phúc.

Ông Hồ Quý Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Thủy, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Phạm Nam D, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2000 tại thị xã B, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: phường Đ, thị xã B, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không, trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân S và bà Phạm Thị N (đều còn sống); bị cáo chưa lập gia đình; tiền á, tiền sự: không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1990; trú tại:, thành phố A, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đỗ V , sinh năm 1994; trú tại: thành phố A, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).

2. Anh Phan Phú T, sinh năm 1999; trú tại: thành phố A, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).

3. Anh Huỳnh Văn Minh Nh, sinh năm 1995; trú tại: thị xã B, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).

4. Anh Trần Quang L, sinh năm 1997; trú tại: thành phố A, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).

5. Anh Nguyễn Đỗ Thanh Đ, sinh năm 1991; trú tại: thành phố A, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).

6. Chị Nguyễn Đỗ Thị Mỹ D, sinh năm 1992; thành phố A, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).

7. Anh Huỳnh Phạm B, sinh năm 2000; trú tại: thành phố A, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).

8. Anh Phạm Tấn L, sinh năm 1982; trú tại: thành phố A, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).

9. Anh Nguyễn V, sinh năm 1999; trú tại: thành phố Hội A, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 28/9/2019, Đỗ V ngồi nhậu với Phan Phú T tại khu vực bến xe buýt ở đường P,tp A. Do có sự hiểu nhầm với một người thanh niên tên D , nên Đỗ V đã điện thoại rủ Huỳnh Văn Minh Nh xuống quán cà phê G ở đường Đ, thành phố A, mục đích tìm gặp người thanh niên tên D này để nói chuyện, Nh đồng ý và điện thoại cho một người bạn tên là DA không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể cùng đi xuống A chơi. Lúc này Nh đang điều khiển xe ô tô chở Nguyễn Phạm Nam D trên đường về nhà. Sau đó Nh điều khiển xe ô tô quay lại hướng A, khi đi đến ngã tư T thuộc khu vực Đ, thị xã B thì gặp nhóm của DA đi trên 03 xe ô tô khoảng 15 người, Nh vẫy tay chào và ra hiệu cho DA đi theo sau xe Nh, rồi Nh đến bến xe buýt A đón Đỗ V và Phan Phú T, sau đó cả nhóm đi trên 04 xe ô tô đến quán cà phê G. Khi đi đến đường Đ gần cà phê G thì V thấy Phạm Tấn H là bạn của V đang ngồi nhậu trước một ngôi nhà, V bảo Nh dừng xe đi đến nói H: “Đi cùng Vũ xuống quán cà phê G gặp anh D nói chuyện” rồi V lên xe ô tô đi, còn H đi xuống sau. Khi đến trước quán cà phê G, Nh dừng xe ô tô, các xe ô tô đi phía sau chở nhóm của DA cũng dừng lại, có một thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch đi trong nhóm của DA lấy trên xe ô tô một bao tải bên trong có chứa nhiều dao, kiếm, gậy bóng chày ném xuống đường, Nh chạy đến lấy một cây đao, Nguyễn Phạm Nam D lấy cây gậy bóng chày, cùng với một số người trong nhóm xông vào bên trong quán cà phê, thấy vậy Đỗ V đến can ngăn và nói: “Đi đến để nói chuyện chứ không phải để đánh nhau mà lấy hàng làm gì”. Lúc này có một số người cùng với Nguyễn Ngọc Th đang ngồi nhậu trong quán cà phê, thấy vậy cầm ly, chén, chai bia và bàn ghế ném vào nhóm của Nh, trúng vào người Phan Phú T đang đứng trên vỉa hè phía trước quán cà phê, bực mình Phan Phú T nhặt cây đao dưới lòng đường, thì V giật cây đao trên tay T, T tiếp tục nhặt cây bóng chày cầm trên tay cùng với V cầm đao xông vào quán, rượt đuổi nhóm của anh Th, hai bên dùng đao, gậy bóng chày, bàn ghế ném vào nhau loạn xạ nhưng không trúng ai. Lúc này L vừa đến đang đứng ngoài đường trước quán cà phê G thì có một thanh niên lạ mặt, L không quen biết, cầm bình xịt hơi cay đưa cho L và nói: “Anh, anh bình xịt hơi cay này”, L cầm lấy và chạy vào trong quán xịt hơi cay tứ tung vào nhóm người trong quán rồi đi về, còn D ném 02 cái bàn và 04 cái ghế (loại bàn, ghế uống cà phê bằng gỗ) vào phía trong quán cà phê trúng vào hai cái ti vi (một cái treo trên tường bên phải phía ngoài, một cái treo trên tường bên trái trong nhà hướng từ trong nhìn ra đường Đ), sau đó D dùng gậy bóng chày đập 02 cái vào màn hình ti vi ở trong nhà. Nhóm của anh Th bỏ chạy ra sau quán trốn thì nhóm của Nh đi ra lại ngoài đường, lúc đi ra T thấy trên vỉa hè trước quán cà phê có 02 chiếc xe mô tô BKS 92C1-322... của anh Trần Quang L và xe mô tô BKS 92C1-046.,.. của anh Nguyễn Đỗ Thanh Đ , T dùng gậy bóng chày gõ lên yên xe của anh L 02 cái còn D dùng gậy bóng chày đập vào phần cản của 02 xe mô tô này nhưng chỉ bị trầy xướt bong sơn không hư hỏng gì. Công an phường C, thành phố A đến lập biên bản sự việc. Toàn bộ sự việc xảy ra vào đêm ngày 28/9/2019 tại quán cà phê G đã được camera của quán ghi hình lại.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 64/ KL-ĐGTS ngày 23/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố Hội An thì tổng thiệt hại 02 tivi hiệu Sony Bravia W65D 48 inch và LG 49UK63 49 inch là 17.550.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSHA ngày 13.3.2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An truy tố bị cáo Nguyễn Phạm Nam D phạm tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản”. Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đồng thời đã bồi thường xong cho người bị hại.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ tháng 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như Cáo trạng đã nêu.

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Phạm Nam D thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hội An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận:

Đêm ngày 28/9/2019, bị cáo Nguyễn Phạm Nam D, Đỗ V, Huỳnh Văn Minh Nh, Phan Phú T cùng với một số người đến quán cà phê G đường Đ, phường C, thành phố A mục đích là để gặp người tên D nói chuyện cá nhân. Tại đây, bị cáo Nguyễn Phạm Nam D cố ý dùng gậy bóng chày và ghế gỗ đập phá 02 ti vi của anh Nguyễn Ngọc Th làm thiệt hại 17.550.000 (Mười bảy triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng). Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này số đối tượng tham gia đông nhưng giữa các đối tượng không có sự phân công, bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau cùng thực hiện tội phạm nên không có tính tổ chức. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được việc cố ý hủy hoại tài sản của người khác là hành vi vi pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo thể hiện việc xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý theo quy định của pháp luật nhằm răn đe, đồng thời giáo dục bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi vi phạm pháp luật của mình; đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng. Do đó, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đảm bảo được việc răn đe, giáo dục để bị cáo trở thành người tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường; người liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 05/QĐ ngày 13/02/2020 trao trả lại cho người bị hại 01 ti vi hiệu Sony Bravia W65D 48 inch bị đập bể, 01 ti vi LG 49UK63 49 inch bị đập bể và 01 loa hiệu Omaton P-319K bị đập bể là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về 01 loa nghe nhạc hiệu Omaton P-319K bị đập bể thiệt hại 1.275.000 đồng cùng với đối tượng tên DA và một nhóm người đi theo DA tham gia việc đập phá nhưng chưa rõ nhân thân lai lịch và chưa đủ thông tin về các đối tượng này nên Công an A tách ra tiếp tục điều tra.

Đối với Đỗ V, Huỳnh Văn Minh Nh, Phan Phú T, Phạm Tấn L có hành vi đập phá tài sản nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an A xử lý hành chính là có căn cứ.

Bị cáo Nguyễn Phạm Nam D phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phạm Nam D phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Nam D 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/4/2020). Giao bị cáo Nguyễn Phạm Nam D cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã B, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Phạm Nam D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28/4/2020). Riêng những người có quyền kháng cáo nhưng vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ