vanban.org

Bản án 07/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Duy N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Duy N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2019. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Duy N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 07/2020/HS-ST
Ngày: 13 – 01 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Quang Cảnh

2. Bà Phạm Thị Nhung

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Phú xét sử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 169/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Phan Duy N, sinh ngày 15/3/1993; Tại Bến Tre; Thường trú: Đường số 1A, phường B A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc Kinh; Giới tính Nam; Tôn giáo Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Phan Châu T và bà Võ Thị Kim D; Vợ Nguyễn Thị Thanh X; Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/9/2019 (có mặt).

Bị hại: Chị Lê Phan Kim Ng, sinh năm 1990; Địa chỉ: 410 Chung cư N, phường T, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/9/2019, Phan Duy N và Nguyễn Phát T gặp nhau và ăn uống tại khu vực kênh Tân Hóa, quận Tân Phú. Sau khi ăn uống xong, Tài rủ N đi cướp giật tài sản bán kiếm tiền tiêu xài; N đồng ý, rồi Tài điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision (chưa rõ biển số) chở N đi qua nhiều tuyến đường tìm tài sản để cướp giật.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai đi đến trước siêu thị Coopmart số 175 Hòa Bình, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú thì thấy chị Lê Phan Kim Ng đang dừng xe mua bánh, trên vai có đeo một túi xách, bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Oppo, 01 cục sạc dự phòng và số tiền 400.000 đồng. Tài chỉ cho Ng thấy và nói đi giật túi xách trên. Sau đó, Tài đậu xe cách chị Ng khoảng 01 mét để N đi bộ đến đối diện với chị Ng và dùng tay phải giật túi xách rồi leo lên xe cho Tài chở để bỏ chạy. Khi chạy đến trước số 133 Hòa Bình thì cả hai bị ngã, Tài dựng xe chạy thoát còn N chạy bộ đến trước số 178/75 Tô Hiệu, phường Hiệp Tân thì bị quần chúng nhân dân bắt quả tang giao cho Công an xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Duy N đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Theo Kết luận định giá tài sản số 358/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 29/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Tân Phú kết luận: 01 cục sạc dự phòng hiệu E.saver màu trắng, tài sản đã qua sử dụng, trị giá 150.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7 số imei 867939046585, tài sản đã qua sử dụng trị giá 3.000.000 đồng. Đối với 01 túi xách màu đen trắng KT (25x20)cm do không rõ nhãn hiệu, chất liệu, model của tài sản nên không đủ cơ sở để xác định giá trị.

Vật chứng vụ án:

+ 01 (một) giỏ xách 25x20cm màu đen trắng đã qua sử dụng.

+ 01 (một) điện thoại di động Oppo màu bạc đã qua sử dụng, số imei 1: 867939046585395, số imei 2: 867939046585387.

+ 01 (một) cục sạc dự phòng E.saver màu trắng đã qua sử dụng.

+ Số tiền 400.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 02/Ctr-VKS ngày 09/12/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận Tân Phú để xét xử bị cáo Phan Duy Ngọc về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ;

Sau khi nghe lời khai nhận tội của bị cáo;

Sau khi nghe ý kiến tranh luận và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú về mức án đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, qua phần xét hỏi và tranh luận, bị cáo Phan Duy N đã thừa nhận vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/9/2019 đã có hành vi đi bộ đến đối diện với chị Lê Phan Kim Ng và dùng tay phải giật túi xách của chị Ng, bên trong có 01 cục sạc dự phòng hiệu Esaver màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7 trị giá 3.150.000 đồng và số tiền 400.000 đồng tại trước số 175 Hòa Bình, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú.

Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với vật chứng, lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, đồng thời gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đã thành khẩn khai báo ăn năn, hối cải để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về trách nhiệm dân sự:

Các tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác, phần dân sự đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) giỏ xách 25x20cm màu đen trắng đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Oppo màu bạc đã qua sử dụng, số imei 1: 867939046585395, số imei 2: 867939046585387; 01 (một) cục sạc dự phòng E.saver màu trắng đã qua sử dụng và số tiền 400.000 đồng đã trả lại cho chị Ngân nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đề nghị xử phạt bị cáo Phan Duy Ngọc với mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phan Duy N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Phan Duy N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ