vanban.org

Bản án 07/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 14/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2019. Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đỏ - đen (loại thân nón có rảnh hở); 01 đôi dép quai hậu màu đen (mặt dép có dòng chứ Vitaipi); 01 quần Jean dài màu xanh đen; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành N Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2020/HS-ST
Ngày: 14 - 02 - 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hồ Lân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Ngọc Sanh

2. Ông Trần Đại Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: bà Trần Thủy Hải - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 02 năm 2020 tại Hội trường xét xử A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2020/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Thành N (Tên gọi khác: T); Giới tính: Nam; Sinh năm 1986, tại tỉnh B. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Nơi đăng ký HKTT: Ấp 3A, xã X, huyện XL tỉnh Đ. Chổ ở hiện nay: Ấp C, xã S, huyện XL, tỉnh Đ. Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết) Con bà: Nguyễn Thị Ly P (đã chết). Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em. Họ tên vợ: Nguyễn Thị H – Sinh năm 1991 (hiện đi đâu không rõ). Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 11/12/2017 bị Tòa án nhân dân TP. B, tỉnh Đ xử phạt 10 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 508/2017/HSST. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 19/12/2005 bị Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 02 năm tù tại Bản án số 161/2005/HSST ngày 18/5/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 02 tháng tù theo bản án số 114/2005/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 29/4/2008.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/10/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Thống Nhất (có mặt).

* Bị hại:Anh Trƣơng Hoàn T, sinh năm 1986; địa chỉ: số 63/4B, ấp T, xã G, huyện TN, tỉnh ĐN (có mặt);

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp C, xã S, huyện XL, tỉnh Đ (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khi đi tham quan Núi cúi ngang qua vườn trồng hoa mai của anh Trương Hoàn T, sinh năm 1986, trú tại ấp Tây Kim, xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Nguyễn Thành N nảy sinh ý định đào trộm để bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định trên, vào khoảng 23 giờ ngày 27/10/2019, N điều khiển xe môtô biển số 53V6-8527 đi từ ấp Chà Rang, xã Suối Cao, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đến rẫy trồng hoa mai của anh Trương Hoàn T thuộc ấp Dốc Mơ 3, xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Khi đi N mặc quần jean lửng màu đen, áo sơ mi màu xanh và mang theo 01 đoạn dây dù màu trắng; 01 túi nhựa màu đỏ bên trong có 01 đèn pin, 01 cưa tay, 01 con dao màu trắng, 01 bay xây dựng, 01 kìm, 01 quần Jean dài màu xanh - đen, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 áo sơ mi trắng sọc và 01 cuộn dây cao su màu đen.

Đến khoảng 01 giờ 00 ngày 28/10/2019, khi đi đến vườn chôm chôm bên phải đường bê tông liên ấp Dốc Mơ 3, hướng Núi Cúi – khu dân cư ấp Dốc Mơ 3 (cách vườn hoa mai của anh T khoảng 100m) thì N điều khiển xe môtô biển số 53V6-8527 đi vào trong vườn chôm chôm để cất giấu xe. Sau đó N lấy túi nhựa màu đỏ để trên đám cỏ gần đường bê tông, mang đèn pin vào nón bảo hiểm đội trên đầu và cầm theo bay xây dựng đi bộ băng qua rẫy của người dân để đến vườn hoa mai của anh T. Khi vào được vườn hoa mai N đi tìm lựa cây mai mới trồng, rễ chưa bám nhiều xuống đất để dễ đào. Đầu tiên, N chọn được 01 cây hoa mai cao khoảng 1,8m, hoành gốc khoảng 70cm, N dùng hai tay bám vào thân cây hoa mai, dùng sức nặng của mình để kéo nhiều lần cho thân cây ngã xuống đất. Sau đó, N dùng bay xây dựng đào bớt đất và cắt xắn các rễ nhỏ dứới gốc mai để tách cây hoa mai khỏi đất trồng.

Tiếp đó, N chọn thêm được 01 cây hoa mai cao khoảng 1,6m, hoành gốc khoảng 85cm. Và cũng với cách thức như trên, N đào gốc mai này lên khỏi đất trồng.

Sau khi đã đào trộm được 02 cây hoa mai trên, N đi bộ ra cổng lưới B40 của vườn mai, dùng tay mở kẽm buộc để mở cổng ra rồi đi đến vị trí cất giấu xe và điều khiển xe môtô biển số 53V6-8527 đến vườn mai. Tiếp đó, N khiêng cây hoa mai cao khoảng 1,8m, hoành gốc khoảng 70cm để lên phía sau yên xe môtô biển số 53V6-8527, dùng dây dù buộc cố định lại rồi điều khiển xe môtô biển số 53V6-8527 chở đi trên đường bê tông về hướng Núi Cúi để tìm nơi cất giấu. Khi đến vườn chôm chôm của người dân ở bên phải đường (cách vườn mai của anh T khoảng 300m) thì N điều khiển xe môtô biển số 53V6-8527 chở cây hoa mai vào trong, tháo dây buộc, khiêng cây hoa mai đi vào 01 bãi đất trũng, có nhiều cỏ để cất giấu.

Trên đường điều khiển xe môtô biển số 53V6-8527 quay lại vườn mai để tiếp tục khiêng cây mai thứ hai ra, N đã dừng lại tại vị trí để túi nhựa lúc trước, lấy theo 01 áo sơ mi dài tay màu trắng. Khi đến vườn mai, N dựng xe môtô biển số 53V6-8527 gần gốc cây hoa mai đã đào được rồi cầm theo áo sơ mi màu trắng đi đến khu vực cuối vườn mai của anh T để thay áo. Vứt lại áo sơ mi màu xanh, N đi ra thì bị anh Trương Hoàn T cùng 02 người bạn là các anh Bùi Hạnh C, sinh năm 1984 và Lê Thái Công H, sinh năm 1994 cùng trú tại ấp Dốc Mơ 3, xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát hiện và tri hô và báo công an. N bỏ xe lại chạy theo đường rẫy đã đột nhập vào vườn mai của anh T trước đó. Trên đường bỏ chạy, N đã vứt đèn pin dọc đường. Khi chạy ra đến vị trí để túi lúc đầu, N lấy 01 quần jean dài màu xanh – đen mang sẵn trong túi mặc vào nhằm thay đổi đặc điểm nhận dạng rồi cầm nón bảo hiểm đi bộ ra đường bê tông về hướng Núi Cúi và bị lực lượng Công an xã Gia Tân 1 bắt giữ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện, lúc đầu Nguyễn Thành N quanh co chối tội, sau đó biết hành vi của mình không thể trốn tránh được sự truy cứu của pháp luật nên khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên

Bản cáo trạng số 13/CT.VKSTN ngày 16/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Thành N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát công bố quyết đinh thay đổi một phần quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, cha mẹ mất, vợ bỏ đi, một mình nuôi hai con nhỏ. Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về chăm sóc con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng số 13/CT.VKSTN ngày 15/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 01 giờ 00 ngày 28/10/2019 tại rẫy trồng hoa mai thuộc ấp Dốc Mơ 3, xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành N đã thực hiện hành vi đào trộm 02 cây hoa mai, một cây cao1,8m hoành gốc 70 cm, 01 cây cao 1,6m hoành gốc 85 cm. Tài sản được thẩm định trị giá 34.000.000 đồng (ba mươi tư triệu) của anh Trương Hoàn T thì bị anh T cùng 02 người bạn phát hiện, tri hô và báo Công an xã. Trên đường bỏ trốn, N bị lực lượng Công an xã Gia Tân 1 bắt giữ.

[3 Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, tài sản hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và bị xử phạt 03 (ba) lần 04 (bốn) năm tù, tuy nhiên khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không tu chí làm ăn khắc phục sai lầm lại tiếp tục phạm tội nên cần có mức án nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân bị cáo: Ngày 19/12/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 02 năm tù tại Bản án số 161/2005/HSST ngày 18/5/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 02 tháng tù theo bản án số 114/2005/HSST

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Ngày 11/12/2007 TAND thành phố Biên Hòa xử phạt bị cáo 10 (mười) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 13/4/2018 chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội là tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ TNHH quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Đến nay 01 gốc mai đã đâm chồi, 01 gốc đang còn được chăm sóc, đồng thời anh T chưa có yêu cầu bồi thường nên chưa có cơ sở xem xét. Do đó dành quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp 2 gốc mai chết đối với anh T để giải quyết sau.

Về vật chứng:

- 01 cây mai cao 1,8m, hoành gốc 70 cm; 01 cây mai cao 1,6 m, hoành gốc 85 cm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã thu hồi, trao trả cho bị hại là anh Trương Hoàng T.

- 01 xe môtô biển số 53V6-8527, chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1992, ngụ tại ấp 3A, xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Anh T cho Nguyễn Thành N mượn xe và không biết Nhân sử dụng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trao trả xe cho anh Tứ là đúng quy định.

- 01 bay xây dựng; 01 đoạn dây dù màu trắng dài 2,9m, bản rộng 03cm, bị cáo Nguyễn Thành N sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 áo sơ mi màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đỏ - đen (loại thân nón có rảnh hở); 01 đôi dép quai hậu màu đen (mặt dép có dòng chứ Vitaipi); 01 quần Jean dài màu xanh đen; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng; 01 túi nhựa màu đỏ; 01 cưa tay (dài 52cm, bản rộng 4,5cm); 01 con dao màu trắng (dài 33cm, bản rộng 04cm); 01 kìm tay (dài 18cm); 01 áo sơ mi trắng sọc; 01 cuộn dây cao su màu đen là vật dụng và đồ dùng của bị cáo Nguyễn Thành N sử dụng và mang theo khi đi thực hiện hành vi phạm tội được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất thu giữ. Những đồ vật trên không còn giá trị sử dụng, bị cáo Nguyễn Thành N không yêu cầu nhận lại nên cần tuyên tịch thu, tiêu hủy .

- 01 đèn pin chiếu sáng (loại có vỏ màu đen, quai đeo bằng dây dù màu đen), bị cáo Nguyễn Thành N vứt lại trong quá trình bỏ chạy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa thu hồi được

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2019.

Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đỏ - đen (loại thân nón có rảnh hở); 01 đôi dép quai hậu màu đen (mặt dép có dòng chứ Vitaipi); 01 quần Jean dài màu xanh đen; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng; 01 túi nhựa màu đỏ; 01 cưa tay (dài 52cm, bản rộng 4,5cm); 01 con dao màu trắng (dài 33cm, bản rộng 04cm); 01 kìm tay (dài 18cm); 01 áo sơ mi trắng sọc; 01 cuộn dây cao su màu đen; 01 bay xây dựng; 01 đoạn dây dù màu trắng dài 2,9m, bản rộng 03cm

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2020)

Dành quyền khởi kiện cho anh T bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thành N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ