- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích Nguyễn Quốc T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên bố tịch thu tiêu hủy; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2020/HS-ST Ngày 15-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Dương Văn Phước.
- Ông Nguyễn Tấn Út.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Mỹ Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Hồng Diễm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 9 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: D), sinh năm 1985 tại huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp Kiết N, xã Lâm T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Hồ Thị L; có vợ: Lâm Thị Ngọc N và 02 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Không có án tích; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/5/2020 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Ông Lâm Hồng K, sinh năm 1965 (có mặt).
Trú ấp Kiết N, xã Lâm T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1974 (vắng mặt).
2. Bà Tăng Thị D, sinh năm 1979 (có mặt).
Trú ấp Kiết N, xã Lâm T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Người làm chứng:
1. Ông Tăng Văn X, sinh năm 1971 (có mặt).
2. Ông Lê Văn D, sinh năm 1986 (vắng mặt).
3. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973 (có mặt).
4. Ông Lâm Thanh C, sinh năm 1980 (có mặt).
5. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1954 (có mặt).
Trú ấp Kiết N, xã Lâm T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
6. Ông Võ Hoàng N, sinh năm 1971 (có mặt).
Trú ấp Tân N, xã Lâm T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
7. Ông Trần Quốc M, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Trú ấp Tà Đ, xã Thạnh T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/3/2020, bị cáo và ông Lâm Thanh C hẹn nhau đến nhậu tại quán của ông Nguyễn Hữu L tại ấp Kiết N, xã Lâm T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Tại đây bị cáo nhậu đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, lúc này ông Lâm Hồng K cùng các đồng nghiệp công tác tại Ủy ban nhân dân xã Lâm T đến quán của ông L tổ chức 03 mâm tiệc. Trong lúc mọi người đang ăn uống thì bị cáo T cầm ly bia qua uống giao lưu tại bàn của ông K, mọi người cụng ly với T, riêng ông K uống rượu cũng cầm ly rượu cụng với ly bia của T. Bị cáo qua tổng cộng 03 lần, 02 lần đầu sau khi uống xong bị cáo trở về bàn của bị cáo, đến lần thứ 03 bị cáo qua và đứng sau lưng, bên phải của ông K, cụng ly giao lưu. Ông K cầm ly rượu uống xong và để xuống bàn, lúc này do thấy ly rượu của ông K để trên bàn nên bị cáo nghĩ ông K không uống, không tôn trọng mình, bị cáo đã dùng ly bia thủy tinh đang cầm trên tay phải đánh mạnh vào vùng trán của ông K làm ông K bị thương chảy nhiều máu, ly thủy tinh thì vở thành nhiều mảnh rơi xuống sàn, tay phải bị cáo vẫn còn cầm phần tay cầm của ly thủy tinh và bị cáo ném xuống sàn nhà, mọi người can ngăn và đưa ông K đi cấp cứu, bị cáo thì bị Công an xã Lâm T mời về trụ sở làm việc. Ngày 11/3/2020 ông K có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 105/TgT-PY ngày 27/3/2020 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Sóc Trăng kết luận: dấu hiệu chính qua giám định: 02 tổn thương phần mềm vùng trán trái, kích thước 03cm x 0,6cm và 1,8cm x 0,5cm, tổn thương phần mềm vùng khóe mắt phải kích thước 02cm x 0,5cm, Xquang không thấy tổn thương xương sọ. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ y tế hiện tại là 12%. Kết luận khác: Tổn thương do vật tày có cạnh sắc gây nên.
Bản Cáo trạng số 08/CT-VKSTT ngày 25/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá động cơ, mục đích, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc T trình bày: Bị cáo thừa nhận thương tích của bị hại ông K là do một mình bị cáo gây ra, do trong lúc nhậu say, nghĩ ông K không tôn trọng mình khi bị cáo mời uống bia giao lưu mà ông K không uống, không kiềm chế được bản thân nên bị cáo đã có hành vi dùng ly bia đang cầm trên tay đánh mạnh vào vùng trán của ông K gây thương tích cho ông K với tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc cha già và 02 con còn nhỏ. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường cho ông K 500.000 đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường cho ông K số tiền thiệt hại về sức khỏe 30.000.000 đồng.
Bị hại ông Lâm Hồng K trình bày: Ngày 09/3/2020 tại quán của ông Nguyễn Hữu L tại ấp Kiết N, xã Lâm T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, ông bị bị cáo T dùng ly bia đánh vào vùng trán gây thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%, tại phiên tòa ông xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, sau khi ông bị gây thương tích gia đình bị cáo đã đưa số tiền 500.000 đồng để khắc phục, tại phiên tòa bị cáo đề nghị tiếp tục bồi thường cho ông số tiền 30.000.000 đồng thì ông đồng ý.
Lời khai những người làm chứng gồm ông Võ Hoàng N, ông Nguyễn Văn P và ông Lê Văn D đều khai chứng kiến trực tiếp bị cáo tay phải cầm ly bia đánh mạnh vào vùng mặt ông K gây thương tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan điều tra và cơ quan Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tố tụng: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử xác định ông Nguyễn Hữu L là người làm chứng là chưa chính xác, tại phiên tòa vợ ông L là bà Tăng Thị D có mặt, do ông L, bà D có liên quan đến vật chứng trong vụ án, nên Tòa án xác định ông L, bà D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Những người vắng mặt gồm ông Nguyễn Hữu L, ông Lê Văn D và ông Trần Quốc M, xét thấy việc vắng mặt không cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung vụ án:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, những người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 09/3/2020 tại quán nhậu của ông Nguyễn Hữu L tại ấp Kiết N, xã Lâm T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, trong lúc mời uống bia giao lưu tại bàn của bị hại, do nghĩ bị hại không tôn trọng mình, không uống khi bị cáo mời bia, bị cáo trong lúc say xỉn đã có hành vi dùng ly bia đang cầm trên tay phải đánh mạnh vào vùng trán của bị hại, gây thương tích cho bị hại ông Lâm Hồng K với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi xâm hại sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bản thân bị cáo và bị hại không mâu thuẫn nhau từ trước, nhưng vì sau khi đã dùng rượu, do nghĩ bị hại không tôn trọng, không uống rượu, bia để giao lưu với bị cáo, bị cáo đã dùng ly thủy tinh là loại hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp định khung tăng nặng, nên có đủ căn cứ xác định bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Do vậy, bản Cáo trạng số 08/CT-VKSTT ngày 25/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điều luật đã viện diễn ở trên là đúng pháp luật, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và đã nộp 30.000.000 đồng tại cơ quan thi hành án dân sự để khắc phục thiệt hại, bị cáo có bà nội là người có công được Nhà nước khen thưởng, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 nên Viện kiểm sát đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung hình phạt liền kề của điều luật, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo thống nhất tiếp tục bồi thường cho bị hại thiệt hại về sức khỏe số tiền 30.000.000 đồng và được bị hại đồng ý. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của bị hại và bị cáo, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng, tạm giữ số tiền 30.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị theo biên lai thu số 000314 ngày 20/4/2020 để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ là 09 mảnh vở của ly thủy tinh mà bị cáo dùng gây thương tích cho ông K, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hữu L và bà Tăng Thị D. Xét thấy, ông L, bà D không có ý kiến yêu cầu gì. Do vật chứng là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng và không có ai yêu cầu, căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên bố tịch thu tiêu hủy.
Từ những phân tích nêu trên toàn bộ đề nghị của Viện kiểm sát về áp dụng pháp luật, mức hình phạt, cũng như về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa bị cáo xin được hưởng án treo là không đủ sức răn đe nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
2. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại ông Lâm Hồng K số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Tiếp tục tạm giữ số tiền 30.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị theo biên lai thu số 000314 ngày 20/4/2020 để đảm bảo thi hành án.
3. Xử lý vật chứng: Tuyên bố tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm 09 (chín) mảnh vở ly thủy tinh, mảnh lớn nhất kích thước 08 x 07 x 5,5cm, mảnh nhỏ nhất kích thước 05 x 03cm, không rõ hình dạng. Hiện vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng).
4. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối người vắng mặt kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Thạnh Trị; - Công an huyện Thạnh Trị; - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị; - Bị cáo, bị hại, người liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Nghiệp |