- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Thiện - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN H. TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG Bản án số:07/2020/HS-ST Ngày: 10/3/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lâm Giang;
2. Ông Nguyễn Quốc Sửu;
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sự- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn Th, sinh năm 1989;
- Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
- Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện TY, tỉnh Bắc Giang;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
- Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 12/12;
- Họ tên cha: Hoàng Văn T, sinh năm 1959;
- Họ tên mẹ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1959;
- Đều cư trú tại Thôn C, xã C, huyện TY, tỉnh Bắc Giang;
- Vợ, con: Chưa có;
- Gia đình có 03 chị, em ruột, bị can là con thứ ba;
- Tiền sự: Không;
- Nhân thân:
+ Ngày 18/8/2016, bị Công an xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành nộp phạt xong ngày 13/10/2016.
+ Tại bản án hình sư sơ thẩm số 123/2006/HSST ngày 24/8/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn Th 20 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chấp hành xong tiền án phí ngày 13/10/2006.
+ Tại bản án hình sư sơ thẩm số 20/2009/HSST, ngày 29/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn Th 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với bản án số 123/2006/HSST ngày 24/8/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, buộc chấp hành chung cả 02 bản án là 02 năm 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2009, chấp hành xong tiền phạt và tiền án phí ngày 26/5/2009.
+ Tại Quyết định số 42/2009/QĐ-TA ngày 06/10/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang Quyết định miễn chấp hành hình phạt tù cho Hoàng Văn Th theo bản án số 20/HSST ngày 24/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên về tội “Đánh bạc” căn cứ Nghị quyết 33/2009/NQ12 Quốc hội (số tiền thu trên chiếu bạc là 1.800.000đồng).
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 65/2010/HSST ngày 24/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn Th 03 năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/6/2010, chấp hành xong hình phạt tù, tiền phạt và tiền án phí ngày 23/3/2013.
- Tiền án:
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2016/HSST, ngày 28/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn Th 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong tiền phạt và tiền án phí ngày 23/3/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2019.
- Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.(có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992 ( vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Ngoài Hạ, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Đức G, sinh năm 1974 ( vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Khánh Ninh, xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;
* Người làm chứng:
- Chị Trần Thị P, sinh năm 1971 ( vắng mặt)
Nơi cư trú: phố Bùi, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 04/12/2019, Hoàng Văn Th, sinh năm 1989, trú tại thôn Chùa, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đi bộ từ nhà đến Trường mầm non xã Cao Thượng thuộc thôn Bậu, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang mục đích xem có ai để xe mô tô sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền ăn tiêu. Khi đi Th đem theo 01 chiếc tô vít bằng kim loại màu trắng có chuôi cầm bằng nhựa màu xanh. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày Th đi đến khu vực cổng Trường mầm non xã Cao Thượng, thấy có một số xe mô tô của phụ huynh đưa con đi học dựng ở khu vực ngoài cổng Trường mầm non, Th đi đến gần chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu sơn trắng - đen - bạc biển kiểm soát 98H1-105.80 của Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992 ở thôn Ngoài Hạ, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, quan sát thấy không có ai để ý, Th dùng chiếc tô vít mang theo phá ổ khóa điện, sau đó ngồi lên xe mô tô nổ máy điều khiển xe mô tô đến nhà Anh Phạm Đức G, sinh năm 1974, ở thôn Khánh Ninh, xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Trên đường đi đến khu vực thôn Hậu, xã Cao Xá, huyện Tân Yên, Th vứt chiếc tô vít dùng phá khóa xe máy xuống cánh đồng ở rìa đường. Khi đến nhà anh Giang, Th hỏi vay anh Giang 2.000.000đồng, trong khi anh Giang đi lấy tiền thì Th dùng tay bậy cốp xe mô tô rồi thò tay vào cốp xe lấy chiếc đăng ký xe mô tô mang tên Chị Nguyễn Thị Th đút vào túi quần. Sau đó anh Giang đưa cho Th 2.000.000 đồng, Th cầm tiền và nói với anh Giang cho gửi lại chiếc xe mô tô ở nhà anh Giang vài hôm sau đến lấy xe, anh Giang đồng ý, Th ra về, số tiền vay anh Giang, Th đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi Chị Nguyễn Thị Th đưa con vào lớp học ra thì phát hiện mất xe mô tô nên chị Hiền đã làm đơn trình báo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên.
Ngày 05/12/2019, Hoàng Văn Th đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô của chị Hiền vào ngày 04/12/2019, đồng thời Th tự nguyện giao nộp 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 002534 mang tên Chị Nguyễn Thị Th, ở thôn Ngoài Hạ, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên; 01 (một) áo khoác gió màu xanh - đen - xám, loại áo bóng nhãn mác NMX98REVOLUTION; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen - xám, loại nhãn ĐKNY; 01 (một) đôi dép màu xanh, cỡ 42, loại Meilishu.
Ngày 05/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở đồ vật, tài liệu của Hoàng Văn Th nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án. Cùng ngày chị Nguyễn Thị Hương Giang là giáo viên của Trường mầm non xã Cao Thượng, huyện Tân Yên đã sao chụp từ hệ thống camera giám sát của Trường mầm non xã Cao Thượng, huyện Tân Yên và in ra thành 04 bức ảnh có kích thước (09 x 12) cm giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên để phục vụ công tác điều tra.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 44/KL-ĐGTS ngày 06/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Yên định giá: 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave màu sơn trắng - đen - bạc, BKS 98H1-105.80, số khung 143577, số máy 5142623, xe đã qua sử dụng 6 năm trị giá 10.000.000đồng (Mười triệu đồng chẵn).
Với nội dung vụ án như trên, tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 17/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Hoàng Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hoàng Văn Th thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn Th và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th từ 16 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/12/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Văn Th phải trả cho Anh Phạm Đức G số tiền 2.000.000 đồng.
Về vật chứng và án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Hoàng Văn Th nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi mình là trái pháp luật và ăn năn, hối cải. Đề nghị cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, những người tham gia tố tụng và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại là Chị Nguyễn Thị Th, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Anh Phạm Đức G, người làm chứng Chị Trần Thị P đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy họ đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ của vụ án đã rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh và hình phạt: Lời khai của bị cáo Th tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản kiểm điểm, bản tường trình, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ và kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Yên, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/12/2019, tại khu vực cổng Trường mầm non xã Cao Thượng thuộc thôn Bậu, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, Hoàng Văn Th, sinh năm 1989, trú tại thôn Chùa, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã có hành vi trộm cắp 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave màu sơn trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 98H1-105.80, số khung 143577, số máy 5142623 trị giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng chẵn) của Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992 ở thôn Ngoài Hạ, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã có hành vi lén lút đối với chủ sở hữu tài sản nhằm lợi dụng sơ hở của bị hại để chiếm đoạt tài sản, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương.
Hành vi nêu trên của bị cáo Th đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Th theo tội danh và điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2016/HSST, ngày 28/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn Th 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong tiền phạt và tiền án phí ngày 23/3/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2019. Bị cáo chưa được xóa án tích của bản án trên thì ngày 04/12/2019 bị cáo tiếp tục có hành vi Trộm cắp tài sản. Do vậy, phạm tội lần này của bị cáo Th thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Sau khi thực hiện phạm tội, bị cáo đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo là người có nhân thân xấu mặc dù đã bị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt nhiều lần nhưng sau khi chấp hành xong bị cáo không lấy đó là làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.
Từ những phân tích trên, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo với xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Do bị cáo Th không có nghề nghiệp ổn định, hiện sống chung cùng bố mẹ, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Th.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu sơn trắng - đen - bạc biển kiểm soát 98H1-105.80 là tài sản trước khi kết hôn của chị Hiền nên ngày18/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Hiền quản lý, sử dụng là đúng. Đến nay chị Hiền không yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với yêu cầu của Anh Phạm Đức G, Hội đồng xét xử thấy khi anh Giang cho Th vay số tiền 2.000.000 đồng, Th có tự nguyện gửi chiếc xe mô tô lại để làm tin, tuy nhiên anh Giang không biết chiếc xe mô tô Th gửi là xe do Th phạm tội mà có nên anh Giang không vi phạm pháp luật. Nay anh Giang có yêu cầu nên cần buộc Hoàng Văn Th trả lại số tiền 2.000.000 đồng này cho anh Giang là phù hợp.
[7] Về vật chứng của vụ án:
Đối với chiếc tô vít bằng kim loại màu trắng, có chuôi cầm bằng nhựa màu xanh Hoàng Văn Th khai sử dụng công cụ phạm tội xong đã vứt chiếc tô vít xuống cánh đồng ở rìa đường tỉnh lộ 295, thuộc thôn Hậu, xã Cao Xá, huyện Tân Yên. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được để xử lý.
Quá trình điều tra đã xác định được 01 (một) áo khoác gió màu xanh - đen - xám, loại áo bóng nhãn mác NMX98REVOLUTION; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen
- xám, loại nhãn ĐKNY; 01 (một) đôi dép màu xanh, cỡ 42, loại Meilishu là tài sản của Hoàng Văn Th, tại phiên tòa bị cáo không xin nhận lại tài sản và đề nghị tiêu hủy nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông tên là D ở huyện Đông Anh, Hà Nội mà Anh Phạm Đức G khai đã gửi xe mô tô tại nhà D, tuy nhiên Giang không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của D nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm việc với người đàn ông này do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/12/2019.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357; khoảng 2 Điều 468 Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo Hoàng Văn Th phải trả cho Anh Phạm Đức G số tiền 2.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền được trả cho người được thi hành án cho đến khi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[4] Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác gió màu xanh - đen - xám, loại áo bóng nhãn mác NMX98REVOLUTION; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen - xám, loại nhãn ĐKNY; 01 (một) đôi dép màu xanh, cỡ 42, loại Meilishu.
[5] Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Buộc bị cáo Th phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Tân Yên; - Công an huyện Tân Yên; - Chi cục THADS huyện Tân Yên; - Bị cáo; - Bị hại;người CQLNVLQ vắng mặt; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyên |