- Tranh chấp gì? án hình sự — "191.Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 1…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T V T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2020/HS-ST Ngày: 20/3/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đường;
Ông Trần Văn Hải.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên. Tòa án nhân dân h H Ng, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
T V T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 13 tháng 3 năm 1988, tại: X Ng V, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 11, X Ng V, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: T V V; Con bà: Ng T X; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2019 đến ngày 27/12/2019 được tại ngoại cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 21/12/2019, T V T sử dụng điện thoại di động truy cập mạng xã hội Facebook của mình tên là“Tho Tran” đăng tin tìm mua pháo thì có một tài khoản facebook nhắn tin cho T với nội dung là có pháo bán. T nhắn tin hỏi người đó“Bao nhiêu tiền một cối pháo” thì người đó trả lời “Tám trăm nghìn một cối”. T đặt mua của người này 10 cối pháo loại 36 quả với giá là 8.000.000đ (Tám triệu đồng) để nổ chơi trong dịp Tết. Hai bên thống nhất giao nhận pháo vào tối ngày 21/12/2019 tại khu vực cầu B T 2thuộc xã H L, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô BKS 37K1-55242 đi đến khu vực cầu B T 2thuộc xã H L, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An để lấy pháo. Đến nơi T nhắn tin cho người bán pháo thông báo đã đến điểm hẹn. Khoảng 15 phút sau thì có một người đàn ông đi xe mô tô đến hỏi T “Có phải anh muốn mua pháo không?”. T trả lời “Đúng”. Do trời tối và người này lại đeo khẩu trang nên T không đọc được biển số xe và nhận dạng được người này. T đưa 8.000.000đ (Tám triệu đồng) cho người đàn ông này và người này đưa cho T 01 thùng cát-tông. T mở ra kiểm tra thấy bên trong có 10 (mười) cối pháo loại 36 quả. Tại đây người này yêu cầu T xóa hết tin nhắn liên quan đến việc giao dịch mua bán pháo lưu trong máy điện thoại di động Iphone 6s của T. T đồng ý và đã xóa hết. Sau đó, T để thùng cát-tông có chứa pháo lên xe và đi về nhà. Khi đi đến khu vực cây xăng dầu Nam Vinh thuộc X 5, xã H Th, huyện H Ng, T bị tổ công tác Công an huyện H Ngphát hiện bắt quả tang.
Tại Biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại hồi 10 giờ 00 phút ngày 22/12/2019 thì 10 (mười) khối hình hộp chữ nhật có tổng khối lượng 12,9 kg (Mười hai phẩy chín ki lô gam).
Tại Bản Kết luận giám định số 38/KL- PC09(Đ2-CN) ngày 26/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu vật thu giữ của T V T gửi tới giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi mà bị cáo thực hiện vào ngày 21/12/2019 như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.
Cáo trạng số 10/CT – VKS - HN ngày 25/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H Ng, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo T V T về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo T V T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo: T V T từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 12 đến 18 tháng. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 thùng cát tông đã được niêm phong vì bên trong thùng là pháo; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S đã cũ.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân h H Ng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định tội danh:
Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 10 phút ngày 21/12/2019 và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 21/12/2019, tại khu vực cây xăng dầu Nam Vinh thuộc địa phận xóm 6, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên. Tổ công tác Công an huyện H Ngphát hiện bắt quả tang T V T đang tàng trữ 10 cối pháo (loại 36 quả/1 cối) có tổng khối lượng là 12,9kg.
Căn cứ vào bản kết luận giám định số 38/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 26/12/2019 của phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An, kết luận: Mẫu vật thu giữ của T V T gửi tới giám định là pháo (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nên hành vi tàng trữ 12,9kg pháo của bị cáo T V T nhằm mục đích đốt trong dịp tết nguyên đán đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân h H Ng, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Vụ án xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Biết rõ pháo là loại hàng hóa mà nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ và lưu thông trên thị trường nhưng bị cáo đã có hành vi mua 10 cối pháo (loại 36 quả/1 cối) có tổng khối lượng là 12,9 kg với giá 8.000,000đ để phục vụ cho việc đốt pháo trong dịp tết nguyên đán. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bố của bị cáo được tặng huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, huy hiệu 30 năm tuổi Đảng; kỷ niệm chương “Bảo vệ an ninh tổ quốc”, bằng khen của Bộ quốc phòng; giấy khen của Ban chấp hàng Đảng bộ xã Nghi Vạn. Mẹ của bị cáo được tặng kỷ niệm chương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo sẽ được áp dụng những tình tiết giảm nhẹ này khi Tòa án quyết định hình phạt.
. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. Nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo. Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp và đủ nghiêm nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang sống cùng bố mẹ, là lao động tự do không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (Hình phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Công an huyện H Ng đã thu giữ:
- 01 hộp cát tông được niêm phong theo đúng quy định;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S đã qua sử dụng;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng, Biển kiểm soát 37K1-552.42, xe cũ đã qua sử dụng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hộp cát tông niêm phong thu giữ của T V T. Bên trong thùng là pháo. Đây là vật chứng bị Nhà nước cấm tàng trữ nên cần cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình Sự.
Chiếc xe mô tô là của chị T T T T cho bị cáo mượn. Chị T không biết bị cáo sử dụng chiếc xe đi chở pháo nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Tâm là đúng quy định.
Đối với chiếc điện thoại di động. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc giao dịch với người bán pháo nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy đinh tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình Sự.
. Đối với người bán pháo cho bị cáo. Do bị cáo không biết, không nhớ và
không lưu giữ bất kỳ một thông tin gì về người này. Nên cơ quan điều tra không điều tra và xử lý được người này.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố bị cáo T V T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm".
2. Xử phạt: Bị cáo T V T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo T V T cho Ủy ban nhân dân X Ng V, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: “Một hộp cát tông được niêm phong dán kín, ghi dòng chữ: “vật chứng thu giữ của T V T (1988) xóm 11, X Ng V, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An vào ngày 21/12/2019 tại X 5, xã H Th, huyện H Ng. Sau khi cân xác định khối lượng và lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại”.
+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 6S, màu hồng đã qua sử dụng.
(Đặc điểm chi tiết được phản án tại biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 8 giờ ngày 10/3/2020 giữa Công an huyện H Ngvới Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo T V T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hưng Nguyên; - Công an huyện Hưng Nguyên; - Chi cục THADS huyện Hưng Nguyên; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - TAND tỉnh NA; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thanh |