vanban.org

Bản án 07/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 21/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Nguyễn Quốc T: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt bị Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đối với bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội tr…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 07/2020/HS-ST
Ngày 21 / 02 / 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hồng;

Bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩmcông khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/TLST-HS ngày 21 tháng

01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày

31 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc T, sinh năm 2000, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký

hộ khẩu thường trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không;

trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật

giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc T2 và bà Châu Thị C; có vợ là

Võ Thị Huỳnh N (chưa đăng ký kết hôn) và 01 con sinh năm 2016;

Tiền án, tiền sự: chưa;

Bị tạm giam từ ngày 01/12/2019 đến ngày 04/12/2019 chuyển tạm giam.

Từ ngày 13/01/2020, được hủy bỏ biện pháp tạm giam và bị áp dụng biện pháp

cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

- Bị hại:

+ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp P, xã K, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh

An Giang; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T1,

sinh năm 1950; nơi cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn Út E; vắng mặt.

+ Ông Mai Văn K; vắng mặt.

+ Ông Mai Minh H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 30/11/2019, sau khi uống rượu, Nguyễn Quốc T đi bộ

về đến trước nhà của Nguyễn Văn Đ (vợ là Nguyễn Thị L) ở ấp P, xã K, thấy trong nhà vắng người, cửa nhà không khóa, nên T nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của Đ để bán có tiền tiêu xài. T lén đi vào bên trong nhà, đến đầu tủ thờ lấy trộm 01 thân lư và 02 chân đèn bằng đồng rồi đem ra khỏi nhà cất giấu ở cặp mương thoát nước cách nhà của Đ khoảng 100m, mục đích để ngày hôm sau đem bán, nhưng chưa kịp lấy bán thì bị Đ và L phát hiện trình báo cơ quan Công an. Ngày 01/12/2019, T đến Công an huyện C đầu thú.

- Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: Thu giữ 01 thân lư, 02 chân đèn

bằng đồng và đã trao trả cho ông Nguyễn Văn Đ.

- Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐG ngày 03/12/2019 của

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C: 01 thân lư bằng đồng trị giá 4.000.000 đồng; 02 chân đèn bằng đồng, trị giá 3.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản 7.000.000 đồng.

Nguyễn Quốc T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới

khởi tố, điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát

nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng

truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn T1

cung cấp lời khai như đã khai trong giai đoạn điều tra.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa

phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu,

chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều

173 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được

pháp luật hình sự bảo vệ. Cho nên, đề nghị xử phạt nghiêm, tương xứng với

hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành

khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm

trọng; bị cáo đầu thú; bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì

vậy, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản

1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 06

tháng đến 09 tháng.

Về xử lý vật chứng, tài sản bị chiếm đoạt đã giao trả lại cho bị hại nên đề

nghị không đề cập giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự, do bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị

không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng

của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ

tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên

tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về

hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện

kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo, bị cáo Nguyễn Quốc T khai nhận,

khoảng 19 giờ ngày 30/11/2019, sau khi uống rượu, bị cáo đi bộ về ngang nhà

của ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị L. Thấy trong nhà không có người, cửa

nhà không khóa, bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm tài sản nên đi vào bên trong nhà,

lấy trộm 01 thân lư và 02 chân đèn bằng đồng được đặt trên đầu tủ thờ rồi đem ra

khỏi nhà. Bị cáo cất giấu tài sản trộm được cặp mương thoát nước gần nhà bà Đ,

để ngày hôm sau mang đi bán. Ngày 01/12/2019, khi biết hành vi bị phát hiện, bị

cáo đến Công an đầu thú.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai

đoạn điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 02/12/2019 cùng sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường kèm theo do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới lập; lời khai của ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị L về việc bị mất trộm 01 thân lư, 02 chân đèn bằng đồng và đã được trao trả lại tài sản bị chiếm đoạt; lời khai của ông Nguyễn Văn T1 (cha của ông Đ) về việc có mua 01 thân lư và 02 chân đèn bằng đồng rồi cho ông Đ, bà L quản lý, sử dụng; lời khai của ông Nguyễn Văn Út E, ông Mai Văn K về việc nghe tin ông Đ bị mất trộm 01 thân lư và 02 chân đèn bằng đồng. Khi đi tìm giúp thì phát hiện các tài này được đặt cặp mương thoát nước cách nhà của ông Đ khoảng 100m nên trình báo Công an; lời khai của ông Mai Minh H về việc có uống rượu cùng bị cáo và người khác từ khoảng 15 đến 19 giờ ngày 30/11/2019. Sáng ngày 01/12/2019, ông H nghe tin bị cáo trộm cắp tài sản của ông Đ.

Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định, khi phát hiện chủ sở hữu sơ hở

trong việc bảo quản tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Đ, bà L.

Theo Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐG ngày 03/12/2019 của Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, 01 thân lư bằng đồng và 02 chân đèn bằng đồng bị chiếm đoạt trị giá 7.000.000 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ

hành vi chiếm đoạt tài sản của ông Đ, bà L là xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện thông qua việc lợi dụng lúc tài sản không có người trông giữ, nhanh chóng mang tài sản đi nơi khác cất giấu và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị

cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, quyền sở hữu là một trong

những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực luật hình sự, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.

Bị cáo là người đang ở tuổi lao động. Đáng lẽ, bị cáo phải tìm cho mình

một công việc phù hợp để nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì hám lợi, bị cáo trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, trong quá

trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn

khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú;

bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51

Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa có

tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị

cáo khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp, thuộc thành

phần lao động nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, trong giai đoạn điều tra, Cơ

quan điều tra đã giao trả cho bị hại 01 thân lư và 02 chân đèn bằng đồng bị

chiếm đoạt là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố

tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.

Về trách nhiệm dân sự, sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, các bị

hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền

kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Nguyễn Quốc T: 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt bị

cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được khấu trừ 44 (bốn mươi bốn) ngày bị tạm

giữ, tạm giam trước đó (từ ngày 01/12/2019 đến ngày 13/01/2020).

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án

phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, ông Nguyễn Văn T1 có

quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị L là 15

ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ