vanban.org

Bản án 07/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà PTH.

Về quan hệ hôn nhân: Bà PTH được ly hôn ông NXH. Về con chung: Giao con chung tên NTXT, (nữ) sinh ngày 30/9/2009, cho bà PTH trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà PTH.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 19/02/2020
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Thiện

2. Ông Phan Công Ny

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 633/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 633/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà PTH, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Số 34/16 XYZ, P. XK, Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông NXH, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 34/16 XYZ, P. XK, Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/9/2019 và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà PTH trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông NXH tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ ngày 05 tháng 01 năm 2007. Quá trình chung sống thời gian đầu chung sống hạnh phúc được thời gian dài, tuy nhiên đến những năm gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hạnh phúc, không thể hàn gắn với nhau. Sau nhiều lần tìm biện pháp để hàn gắn tình cảm nhằm duy trì cuộc hôn nhân nhưng không thể đạt được kết quả như mong muốn. Hiện tại bà xác định không còn tình cảm với ông H nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông NXH.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông NXH có 01 con chung là NTXT (nữ), sinh ngày 30/9/2009, khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông NXH cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết bà rút lại yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà H và ông H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà H và ông H trình bày không có chung nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Phía bị đơn ông NXH: Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo hợp lệ đối với ông H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 20/12/2019 và ngày 31/12/2019 nhưng ông H đều vắng mặt không lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung. Rút lại yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1]Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà PTH và ông NXH tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ nên xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh. Quá trình chung sống, bà H và ông H phát sinh mâu thuẫn. Bà H có đơn khởi kiện nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2]Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông NXH đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông H đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3]Về nội dung:

- Xét về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 05/01/2007 tại Ủy ban nhân dân phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, ông bà sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Theo bà H thì nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc, ông H không quan tâm chăm lo cho bà. Ông bà vẫn cố gắng sống chung để mong tìm hiểu nguyên nhân bất đồng để cùng khắc phục nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng vẫn không thể hàn gắn tình cảm được. Bà và ông H mặc dù sống chung với nhau nhưng đã ly thân 07 năm nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông NXH.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mời các đương sự hòa giải theo quy định của pháp luật định nhằm tạo điều kiện để các đương sự hoá giải những mâu thuẫn, hòa giải đoàn tụ nhưng ông H đều vắng mặt không lý do. Điều này chứng t ông H không thật sự tha thiết với cuộc sống hôn nhân này. Hơn nữa, trên thực tế ông bà không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Mặt khác, trước khi khởi kiện xin ly hôn ông bà đã th a thuận thuận tình ly hôn nhưng ông H không hợp tác nên bà đã đơn phương xin ly hôn. Theo văn bản yêu cầu giải quyết việc thuận tình ly hôn ngày 19/8/2019 thể hiện ông H thống nhất nguyên nhân ông bà mâu thuẫn dẫn đến ly hôn như bà H trình bày và ông đồng ý ly hôn. T đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông H đã thật sự rạn nứt, hôn nhân đã chấm dứt trên thực tế. Do đó, đời sống chung giữa ông bà không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục chung sống cũng không đem lại hạnh phúc cho bà H cũng như ông H. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà PTH và ông NXH có 01 con chung là NTXT (nữ), sinh ngày 30/9/2009, khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu NTXT đang sống với bà H, điều kiện phát triển về tinh thần và sức kh e của cháu vẫn phát triển tốt. Cháu vẫn đảm bảo các điều kiện sinh hoạt, học tập đầy đủ cũng như việc trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích của cháu. Mặt khác, cháu Thảo có nguyện vọng muốn sống với bà H và theo văn bản th a thuận ly hôn thì ông H thống nhất giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành nên việc giao cháu Thảo cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với nguyện vọng của cháu, theo th a thuận và quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Theo đơn khởi kiện bà H yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, bà H rút lại yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung, bà cho rằng bà và ông H sẽ tự th a thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Song, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái là thiêng liêng nên người không trực tiếp nuôi con (ông H) có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở ông H thực hiện quyền này.

Tuy nhiên, khi người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật

- Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của đương sự không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà PTH phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà PTH.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà PTH được ly hôn ông NXH.

- Về con chung: Giao con chung tên NTXT, (nữ) sinh ngày 30/9/2009, cho bà PTH trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông NXH, không ai được quyền cản trở ông H thực hiện quyền này.

- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của bà PTH đối với ông NXH.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà PTH phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 001708 ngày 03/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà H đã nộp xong án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ