vanban.org

Bản án 07/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị Thanh L.

Chị Cao Thị Thanh L được ly hôn anh Lê Đình C. Con chung: Xác nhận chị L và anh C có 02 con chung là Cháu Trung (nam), sinh ngày 21/9/2001; Lê Việt A (nam), sinh ngày 19/02/2014. Giao cháu Việt A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh C cho đến khi đương s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị Thanh L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 24-02-2020
“V/v tranh chấp: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quản Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thị Chưa.

2. Bà Lê Thị Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 831/2019/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2019 về tranh chấp "Ly hôn"; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXX-ST ngày 15/01/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2020/QĐ-HPT ngày 16/02/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Cao Thị Thanh L, sinh năm 1980; Hộ khẩu thường trú: Số 25 ngách 318/84 Đê La Thành, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội; Hiện cư trú: Phòng 402 nhà 5 hẻm 102/44/49 Pháo Đài Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội; Có mặt.

Bị đơn: Anh Lê Đình C, sinh năm 1973; Hộ khẩu thường trú: Số 25 ngách 318/84 Đê La Thành, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn ly hôn đề ngày 13/9/2019 và các văn bản trình bày tại Tòa, nguyên đơn

- chị Cao Thị Thanh L trình bày:

Chị Cao Thị Thanh L và anh Lê Đình C kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội vào ngày 19/12/2000.

Sau khi kết hôn anh chị cư trú tại số 25 ngõ 318 ngách 84 Đê La Thành, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội; Đến đầu năm 2019 do phát sinh mâu thuẫn sâu sắc chị và con trai chuyển đi phường Láng Thượng cư trú cho đến nay.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2002 và ngày càng sâu sắc, cuộc sống chung không có hạnh phúc; nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp tính tình, cuộc sống chung không có sự cảm thông, chia sẻ; vợ chồng thường xuyên cãi nhau to tiếng; đỉnh điểm nhất là năm 2018 cho đến nay.

Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

- Con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Cháu Trung (nam), sinh ngày 21/9/2001; Lê Việt A (nam), sinh năm 19/02/2014; Ly hôn, chị L xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Việt A; anh C cấp dưỡng nuôi con bao nhiêu chị cũng đồng ý, trường hợp anh C không cấp dưỡng nuôi con, chị cũng không yêu cầu. Cháu Tr đã trưởng thành, khỏe mạnh, chị không có yêu cầu gì.

- Tài sản chung: Chị và anh C không có tài sản gì chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Chị và anh C không có nợ chung, không vay nợ ai, không cho ai vay nợ.

* Bị đơn - anh Lê Đình C: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh C đều vắng mặt, không đến Tòa thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

Tại phiên tòa:

* Chị Cao Thị Thanh L vẫn giữ nguyên các ý kiến về việc xin ly hôn, về con chung, về tài sản chung như chị đã trình bày ở trên.

* Anh Lê Đình C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án; các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án là đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Cao Thị Thanh L có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội giải quyết vụ án hôn nhân gia đình giữa chị và anh Lê Đình C. Anh C có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thị Thanh L đối với anh Lê Đình C. Con chung: Xác nhận chị L và anh C có 02 con chung là Cháu Trung (nam), sinh ngày 21/9/2001; Lê Việt A (nam), sinh năm 19/02/2014. Giao cháu Việt A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh C; cháu Tr đã trưởng thành nên không xét. Tài sản chung: Chị L không yêu cầu nên không xét. Án phí: Chị L phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng dân sự: Anh C có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội. Chị Cao Thị Thanh L có đơn xin ly hôn anh C tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết, xét xử là đúng thẩm quyền.

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh C; anh C đã được triệu tập đến tham gia phiên tòa lần 2 hợp lệ nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C.

2. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện chị L và anh C kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội vào ngày 19/12/2000; Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình, hôn nhân giữa chị L và anh C là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của đương sự trong vụ án thấy: Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc, từ đầu năm 2019 cho đến nay anh chị đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm, không chăm sóc nhau.

Hội đồng xét xử nhận thấy: vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ sống chung với nhau…, anh chị mỗi người một nơi, không quan tâm, không chăm sóc nhau, việc ai người đó làm, không có sự yêu thương, cảm thông. Tòa án đã thông báo anh C đến Toà để tham gia hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng anh C đều vắng mặt; Toà án cũng tạo điều kiện về thời gian để anh chị chủ động hàn gắn tình cảm vợ chồng song từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, cả anh và chị vẫn sống ly thân, không có biện pháp gì để cải thiện cuộc sống vợ chồng như hiện nay. Tại phiên tòa lần 2 anh vẫn vắng mặt không có lý do, chứng tỏ anh C cũng không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, với điều kiện, hoàn cảnh như hiện nay thì anh chị không có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc; nhận định của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, do vậy, căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L. Anh C không đến Toà thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, không đưa ra ý kiến, quan điểm, không có biện pháp gì cải thiện tình cảm vợ chồng nên không có căn cứ để xem xét.

Con chung: Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện chị L và anh C có 02 con chung Cháu Trung (nam), sinh ngày 21/9/2001; Lê Việt A (nam), sinh ngày 19/02/2014. Ly hôn. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Việt A.

Xét thấy việc giao con cho ai nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; Từ khi sống ly thân cho đến nay cháu Việt A cư trú cùng chị L; cháu khoẻ mạnh, phát triển bình thường; hiện cháu Việt A còn nhỏ, cần có mẹ gần gũi, thường xuyên dạy bảo, chăm sóc; Chị L có sức khoẻ, việc làm, có thu nhập ổn định, có thời gian để chăm sóc con; việc giao con cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ thuận tiện hơn trong việc chăm sóc và cũng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện nay của anh chị; phù hợp với nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, do vậy, không cần thiết phải xáo trộn cuộc sống hiện nay của cháu. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Việt A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh C cho đến khi đương sự có yêu cầu. Cháu Tr đã trưởng thành, khỏe mạnh, việc ở với ai do cháu tự quyết định, Tòa không xét.

Tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.

Nợ chung: Chị L xác nhận quá trình chung sống vợ chồng anh chị không có khoản vay nợ nào chung, không yêu cầu Tòa giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.

Án phí: Chị L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Chị Cao Thị Thanh L và anh Lê Đình C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh C đến Tòa thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng nhưng anh C đều vắng mặt, không thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự; do đó không xét.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị Thanh L.

Chị Cao Thị Thanh L được ly hôn anh Lê Đình C.

2. Con chung: Xác nhận chị L và anh C có 02 con chung là Cháu Trung (nam), sinh ngày 21/9/2001; Lê Việt A (nam), sinh ngày 19/02/2014. Giao cháu Việt A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh C cho đến khi đương sự có yêu cầu hoặc đến khi có quyết định pháp luật khác thay thế; Cháu Tr đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không xét.

Anh C có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

3. Tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị L không yêu cầu nên không xét.

4. Nợ chung: Chị L xác nhận không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu nên không xét.

5. Án phí: Chị Cao Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009279 ngày 07 tháng 10 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.

Chị Cao Thị Thanh L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Đình C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ