vanban.org

Bản án 07/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Tống ThịL và anh Nguyễn VănB.

Về con chung: công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc nuôi con chung. Giao cháu Nguyễn Minh Q1 - sinh ngày 13/9/2012 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháuQ1 đủ 18 tuổi; giao cháu Nguyễn NhưQ2 - sinh ngày23/4/2015 cho chi ̣ Tống Thi ̣ L trực tiếp nuôi dưỡng, cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Tống THị L - Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Tống ThịL và anh Nguyễn VănB.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 8 - 2020
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lại Xuân Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chi Hiếu;

́

2. Bà Lê Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 4 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Tống ThịL - sinh năm 1988;

2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn B - sinh năm 1984;

Cùng nơiĐKHKTT, nơi ở: thôn TL 2 (nay là thônTP), xã TP, huyê ̣n TL, tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn - chị Tống Thi ̣ L trình bày: chị và anh Nguyễn Văn B kết hôn với nhau trên cơ sở có tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xa ̃Thanh Phong, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam ngày 02/01/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh B tại thôn TL 2 (nay là thôn TP), xã TP. Anh chi ̣ chung sống hòa thuâ ̣n ha ̣nh phúc được khoảng02 năm thi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu

̀

thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bản thân chị công tác trong ngành Công an, tính chất công việc đặc biệt, phải tiếp xúc với nhiều người, nhưng anh B không thông cảm mà hay ghen tuông chị vớ i những ngườ i đàn ông khá. Có nhiềuc lần anh B tát chị, xúc phạm danh dự nhân phẩm của chị; nhưng vi các con nên chi ̣

̀ nhẫn nhi ̣n. Hơn nữa, do sống chung vớ i bố me ̣ anh B, nên chi ̣ không tránh khỏi va chạm trong cuộc sống thường ngày giữa bố mẹ chồng và chị. Mẹ chồng chị cũng chử i bớ i, xúc phạm chị, nghi ngờ chi ̣ có quan hê ̣ vớ i ngườ i đàn ông kha. Vợ́c chồng thườ ng xuyên xảy ra tinh tra ̣ng cai chữ

, xúc phạm nhaủ i

. Chính vì những lí do trên,

̀ chị thấy cuộc sống vợ chồng căng thẳng, ngô ̣t nga ̣t, sống không có ha ̣nh phúc như trướ c đây nữa, dần dần tinh cảm vợ chồng la ̣nh nha ̣. Bản thân anh Bình đã nhiều lầnt

̀ làm đơn xin ly hôn chị. Đến ngày 09/3/2020, vợ chồng sống ly thân, chị không còn quan tâm đến anhB nữa. Mặc dù đã được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo về đoàn tụ, nhưng chi ̣ không thể tiếp tu ̣c duy tri hôn nhân giữa chi ̣ và anhB khi cuô ̣c

̀

sống vợ chồng không có ha ̣nh phúc. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đa trẫ ̀m tro ̣ng, viê ̣c đoàn tu ̣ là không thể, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về con: vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh Q1 - sinh ngày 13/9/2012 và cháu Nguyễn Như Q2 - sinh ngày 23/4/2015; hiê ̣n nay cả hai cháu đang sống cùng anh B và bố mẹ của anh B. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu, không yêu cầu anhB cấp dưỡng nuôi con. Về con riêng, con nuôi: không co, hiê ̣́

n nay chi ̣ không mang thai, nên chi ̣ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: chị không đề nghị Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 04/5/2020 và trong quá trình xét xử, bị đơn - anh Nguyễn Văn B trình bày: anh kết hôn vớ i chi ̣ Tống Thi ̣ L trên cơ sở có tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xa Thanh Phong, huyện Thanh̃ Liêm, tỉnh Hà Nam ngày 02/01/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh tại thôn TL 2 (nay là thôn TP), xã TP. Anh chi ̣ chung sống hòa thuâ ̣n ha ̣nh phúc đến tháng10/2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, hiểu lầm nhau. Anh chi ̣ sống cùng vớ i bố me ̣, nên không tránh khỏi những va chạm trong cuộc sống thường ngày, nhưng đó không phải là những mâu thuẫn lớ n. Anh không khéo trong viê ̣c nói năng, nên chi ̣ L cho rằng anh cư xử không đúng mực, ghen tuông vô cớ, dẫn đến vợ chồng hiểu lầm nhau, chứ mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mứ c trầm tro ̣ng . Trong quá trình chung sống, vợ chồng thi thoảng có xảy ra mâu thuẫn, anh có tát chị Luật 01 lần và do bực tức nên anh đã 01 lần làm đơn xin ly hôn. Vợ chồng sống ly thân từ ngày09/3/2020, chị L không còn quan tâm đến anh nư. Anh đãa

nhiều lẫ

̀n chủ đô ̣ng liên hê ̣ vớ i chi ̣L để vợ chồng gă ̣p gơ, giải quyết những mâu thuẫñ

, hiểu lầm không đáng có, nhưng chi ̣ L không muốn chung sống cùng anh nữ. Anh xác định vẫn còn tình cảm với vợa

, nên chị L xin ly hôn, anh không nhất tri, đề nghị Tòa án kiên trì hòa giải để vợ chồng

́

đoàn tu ̣ nuôi da ̣y con chung.

Về con: vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh Q1 - sinh ngày 13/9/2012 và cháu Nguyễn Như Q2 - sinh ngày 23/4/2015; hiê ̣n nay cả hai cháu đang sống cùng vớ i anh và bố me ̣ của anh. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu, không yêu cầu chịL cấp dưỡng nuôi con. Về con riêng, con nuôi: không co, hiê ̣́

n nay chịL không mang thai, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: anh không đề nghị Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 10/6/2020, cháu Nguyễn Minh Q1 trình bày: cháu là con của bố Nguyễn Văn B và mẹ Tống Thị L. Khi bố me ̣ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với bố vì bố có thời gian chăm cháu nhiều hơn và dạy cháu học, đưa đón cháu đi ho ̣c.

* Xác minh tại UBND xã Thanh Phong xác định: nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh Nguyễn VănB và chị Tống ThịL là do anh chị bất đồng quan điểm sống, anh B hay ghen tuông, nghi ngờ sự chung thủy của vợ, dẫn đến vợ chồng va cha ̣m, cãi chửi nhau. Anh B đa nhiều lẫ

̀n cam kết thay đổi viê ̣c ghen tuông, song anh B vẫn không thay đổi. Sau đó đến tháng3 năm 2020, anh chi ̣ sống ly thân. Nay, chị L có đơn xin ly hôn vớ i anhB, quan điểm của chinh quyền, đoàn thể xã Thanh Phong đề

́

nghị Tòa án kiên trì hòa giải để anh chị đoàn tụ nuôi dạy con chung; trường hợp chi ̣ L cương quyết xin ly hôn anh B, đề nghị Toà án giải quyết viê ̣c ly hôn giữa chi ̣L và anh B theo quy định của pháp luật.

Quá trình hòa giải tại Tòa án, chị Tống ThịL và anh Nguyễn VănB đa thỏã thuâ ̣n nếu ly hôn thi giao cháu Nguyễn Minh Q1 - sinh ngày 13/9/2012 cho anh

̀ Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu Q1 đủ 18 tuổi; giao cháu Nguyễn NhưQ2 - sinh ngày23/4/2015 cho chi ̣ Tống Thi ̣L trực tiếp nuôi dưỡng , cho đến khi cháuQ2 đủ 18 tuổi; không bên nào pha cẩi ́p dưỡng nuôi con.

* Tại phiên tòa:

- Chị Tống ThịL giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Văn B. Anh Nguyễn Văn B xác định vẫn còn tình cảm với vợ nên không nhất tri ly hôn. Về con chung: chị Tống ThịL và anh Nguyễn

́ Văn B thỏa thuận nếu ly hôn thì giao cháuNguyễn Minh Q1 - sinh ngày 13/9/2012 cho anh Nguyễn VănB trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháuQ1 đủ 18 tuổi, giao cháu Nguyễn Như Q2 - sinh ngày 23/4/2015 cho chi ̣ Tống Thi ̣ L trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháuQ2 đủ 18 tuổi; không bên nào pha cẩi ́p dưỡng nuôi con. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: chị Tống ThịL và anh Nguyễn VănB đều không đề nghị Toà án giải quyết.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đãthực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội - xử cho ly hôn giữa chị Tống ThịL và anh Nguyễn VănB. Về con chung: giao cháuNguyễn Minh Q1 cho anh Nguyễn VănB trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Như Q2 cho chi ̣ Tống Thi ̣ L trực tiếp nuôi dưỡng; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: chị Tống ThịL phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chi ̣ Tống Thi ̣ L có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn là anh Nguyễn Văn B hiện cư trú tại xã TP, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm.

Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị Tống ThịL và anh Nguyễn Văn B là tự nguyện, hợp pháp. Do anh chi ̣ bất đồng quan điểm sống, anh B hay ghen tuông, nghi ngờ sự chung thủy của vợ, dẫn đến vợ chồng va cha ̣m, cãi chửi nhau, sống không còn ha ̣nh phúc như trướ c đây nư. Anh chị sống ly thân từ tháng̃a

3 năm 2020 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và mong muốn ly hôn ; còn anh B xác định vẫn còn tình cảm với vợ, muốn vợ chồng đoàn tu ̣ để nuôi da ̣y con chung. Tuy nhiên, anh Bình xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, trong lúc nóng nảy anh có tát chị Luật 01 lần. Ngoài ra, trong bản kiểm điểm do anh Bình viết ngày 13/3/2020, anh Bình thừa nhận là anh hay có tính ghen tuông vô cớ, đánh vợ và đập điện thoại của vợ. Điều đó khẳng đi ̣nh mâu thuẫn của vợ chồng anh chi ̣ là có thâ ̣t, cuô ̣c sống vợ chồng không ha ̣nh phúc. Hơn nữa, bản thân anh B còn là người chủ động làm đơn xin ly hôn chịL. Do đó, Hô ̣i đồng xét xử xác đi ̣nhhôn nhân giữa chị L và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị L xin ly hôn anh Bình là có căn cứ, phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: chị Tống ThịL và anh Nguyễn VănB đa thỏa thuận nếu lỹ hôn thi giao cháu Nguyễn Minh Q1 - sinh ngày 13/9/2012 cho anh Nguyễn Văn B

̀ trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn NhưQ2 - sinh ngày23/4/2015 cho chi ̣ Tống Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; không bên nào phả câi ́p dưỡng nuôi con. Hơn nữa, cháu Q1 có nguyện vọng được ở với anh B nếu anh chị ly hôn. Vì vậy, sự thỏa thuận này của anh chị là phù hợp với quy định tại khoản2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên Hội đồng xét xử công nhận.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: các đương sự không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: chị Tống ThịL phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147, các điều 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Tống ThịL và anh Nguyễn VănB.

2. Về con chung: công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc nuôi con chung. Giao cháu Nguyễn Minh Q1 - sinh ngày 13/9/2012 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháuQ1 đủ 18 tuổi; giao cháu Nguyễn NhưQ2 - sinh ngày23/4/2015 cho chi ̣ Tống Thi ̣ L trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháuQ2 đủ 18 tuổi; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Các bên được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.

3. Án phí: chị Tống Thị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004928ngày 27/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ