vanban.org

Bản án 07/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Phương L1 được ly hôn với anh Trần Vũ L2.

Về con chung: Giao con chung Trần Lê Phước T, sinh ngày 21/6/2019 cho chị Lê Thị Phương L1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Vũ L2 được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Về án phí: Chị Lê Thị Phương L1 phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ giữa Lê Thị Phương L và Trần Vũ L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Phương L1 được ly hôn với anh Trần Vũ L2.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƯỚC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07/2020/HNGĐ-ST
Ngày:16-4-2020.
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Dũ

2. Bà Võ Thị Kim Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang: Ông Lê Trung Hiếu – kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:268/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:04/2020/QĐXX-ST ngày 06 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Phương L1, sinh năm 1992.

Địa chỉ: 159/6 ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Trần Vũ L2, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp Mỹ Đức, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

(Tại phiên tòa có mặt chị L1, vắng mặt anh L2)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Lê Thị Phương L1 trình bày: Chị và anh Trần Vũ L2 kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/9/2017. Quá trình sống chung vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do anh Linh thường xuyên đi nhậu, ghen tuông vô cớ, thường đánh đập chị. Anh, chị đã không còn sống chung khoảng 6 tháng nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Vũ L2. Về con chung, chị và anh Trần Vũ L2 có một con chung tên là Trần Lê Phước T, sinh ngày 21/6/2019, hiện nay cháu T đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh L2 cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung, chị xác định chị và anh L2 không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Vũ L2: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ anh Trần Vũ L2 nhiều lần nhưng anh L2 vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Lê Thị Phương L1 giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Vũ L2 và yêu cầu trực tiếp nuôi con. Bị đơn anh Trần Vũ L2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Phát biểu của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Lê Thị Phương L1 được ly hôn với Trần Vũ L2, giao con chung cho chị L1 trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đương sự có mặt tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị Phương L1 yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Trần Vũ L2 có nơi cư trú tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Trần Vũ L2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Phương L1 và anh Trần Vũ L2 sống chung có đăng ký kết hôn năm 2017, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình sống chung giữa chị L1 và anh L2 xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị L1 cho rằng anh L2 thường xuyên đi nhậu, vợ chồng cự cải và đã không còn sống chung khoảng 06 tháng; tại biên bản ghi lời khai của bà Trần Thị T ngày 27/12/2020 (bút lục 19) là mẹ ruột của anh L2, bà T thừa nhận mâu thuẫn giữa chị L1 và anh L2 đúng như chị L1 đã trình bày và hiện tại vợ chồng anh L2, chị L1 đã không còn sống chung cách nay nhiều tháng. Tòa án đã tổ chức hòa giải đoàn tụ nhưng anh L2 không đến tham dự hòa giải, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ, điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa chị L1 và anh L2 không còn. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Phương L1.

Về con chung: Chị Lê Thị Phương L1 và anh Trần Vũ L2 có một con chung là Trần Lê Phước T, sinh ngày 21/6/2019. Xét thấy, cháu T còn nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi, hiện tại đang sống với chị L1, bản thân chị L1 có thu nhập ổn định đủ điều kiện nuôi con, ngoài ra kể từ khi thụ lý vụ án đến nay anh L2 không có ý kiến về việc chị L1 yêu cầu nuôi con. Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L1, giao con chung cho chị L1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Vũ L2 được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Chị Lê Thị Phương L1 chưa có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không cần xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Phương L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Phương L1, anh Trần Vũ L2 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Phương L1 được ly hôn với anh Trần Vũ L2.

2. Về con chung: Giao con chung Trần Lê Phước T, sinh ngày 21/6/2019 cho chị Lê Thị Phương L1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Vũ L2 được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Lê Thị Phương L1 phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị Lê Thị Phương L1 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 20179 ngày 24/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Chị L1 đã nộp xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị Lê Thị Phương L1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Trần Vũ L2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ