- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Bàn Tà Ch - Triệu Thị Nh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Bàn Tà Ch được ly hôn với chị Triệu Thị Nh.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2020/HNGĐ- ST Ngày: 13-8-2020 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ
Các Hội thẩm nhân dân: + ÔngVàng Văn Thủy
+ Bà Dương Thị Lan Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2020. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2020/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 5 năm 2020 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXX- ST, ngày 07 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2020/QĐST- HNGĐ, ngày 22/7/2020 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Anh Bàn Tà Ch - sinh năm:1989. Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
2.Bị đơn: Chị Triệu Thị Nh - sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 04/5/2020 và bản tự khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Bàn Tà Ch trình bày: Anh và chị Triệu Thị Nh về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007. Đến ngày 30/7/2013 anh chị mới đi đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống anh, chị sống hòa thuận hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì, không biết vì lý do gì chị Nh bỏ nhà đi khỏi địa phương từ tháng 03 năm 2017, không nói gì cho anh và gia đình biết. Anh Ch đã tìm nhiều nơi nhưng không biết chị Nh đang ở đâu, làm gì, gia đình cũng không có tin tức gì và chị Nh mất tích từ đó đến nay không về nhà. Anh Bàn Tà Ch đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc Tuyên bố chị Triệu Thị Nh mất tích và đã được Tòa án giải quyết ngày 28 tháng 02 năm 2020. Nay anh Ch thấy tình cảm không còn, để đảm bảo cuộc sống sau này của anh, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Triệu Thị Nh.
VÒ con chung: Quá trình chung sống giữa anh Ch và chị Nh có 02 con chung, cháu lớn tên là: Bàn Thị Gh, sinh ngày 08/9/2008, cháu nhỏ tên là: Bàn Phúc K, sinh ngày 06/02/2010. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng với anh Ch. Nguyện vọng của anh Ch đề nghị Tòa án giải quyết cho anh tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Gh và cháu K, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu chị Nh phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: anh Ch không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Triệu Thị Nh, sinh năm 1993. Nơi cư trú cuối cùng: thôn Làng Cù, xã Bản Cái, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đã bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tuyên bố mất tích theo Quyết định số: 03/2020/QĐST- VDS, ngày 28/02/2020.
Tại phiên tòa hôm nay:
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử:
+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Anh Bàn Tà Ch được ly hôn chị Triệu Thị Nh.
+ Về con chung: Căn cứ Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Giao cho anh Bàn Tà Ch được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bàn Thị Gh, sinh ngày 08/9/2008 và cháu Bàn Phúc K, sinh ngày 06/02/2010, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị Triệu Thị Nh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đương sự phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.
- Anh Bàn Tà Ch vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Bàn Tà Ch khởi kiện xin ly hôn chị Triệu Thị Nh, nơi cư trú cuối cùng: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Đây là quan hệ pháp luật về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai thụ lý và giải quyết theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền theo lãnh thổ và loại việc được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý cho bị đơn chị Triệu Thị Nh theo quy định tại Điều 196 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã ra thông báo phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã niêm yết tại nơi cư trú và trụ sở UBND xã B, huyện B nơi chị Nh cư trú trước đây và niêm yết thông báo hoãn phiên họp việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Niêm yết thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ theo quy định tại Điều 209 và Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do, nên đã ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử. Tiến hành niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay chị Nhim vẫn không có mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Bàn Tà Ch và chị Triệu Thị Nh về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007. Đến ngày 30/7/2013 anh chị mới đi đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống anh chị sống hòa thuận hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì, không biết vì lý do gì chị Nh bỏ nhà đi khỏi địa phương từ tháng 03 năm 2017 và mất tích từ đó đến nay không về nhà. Anh Bàn Tà Chùn đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố chị Triệu Thị Nh mất tích.Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định số: 03/2020/QĐST- VDS, ngày 28/02/2020 tuyên bố chị Triệu Thị Nh mất tích. Ngày 04/5/2020 anh Ch làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nh. Xét việc yêu cầu xin ly hôn của anh Ch là có cơ sở, phù hợp với quy định của khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận giải quyết theo yêu cầu của anh Ch.
Về nuôi con khi ly hôn: Quá trình chung sống giữa anh Ch và chị Nh có 02 con chung, cháu lớn tên là: Bàn Thị Gh, sinh ngày 08/9/2008, cháu nhỏ tên là: Bàn Phúc K, sinh ngày 06/02/2010. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng với anh Ch. Nguyện vọng của anh Ch đề nghị Tòa án giải quyết cho anh tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con chung.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hỏi ý kiến của cháu Bàn Thị Gh và cháu Bàn Phúc K thì các cháu đều có nguyện vọng xin được sống cùng với anh Chùn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Triệu Thị Nh đã bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà tuyên bố mất tích. Hiện nay cả hai cháu Gh và K đều đang sống cùng với anh Ch. Xét nguyện vọng của cháu Gh và cháu K đều muốn sống cùng với anh Ch và anh Ch có nguyện vọng muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Gh và cháu K, anh không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81,82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của anh Ch, giao cho anh Bàn Tà Ch được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Bàn Thị Gh, sinh ngày 08/9/2008 và cháu Bàn Phúc K, sinh ngày 06/02/2010, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị Triệu Thị Nh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Gh và cháu K cũng như của cha, mẹ đối với con, khi nào chị Nh trở về anh Ch có quyền yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con chung hoặc chị Nh có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu có đủ căn cứ.
Về tài sản chung và các khoản nợ: Anh Ch không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Bàn Tà Ch phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Về quyền kháng cáo: Anh Bàn Tà Ch và chị Triệu Thị Nh được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 ; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Anh Bàn Tà Ch được ly hôn với chị Triệu Thị Nh.
2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho anh Bàn Tà Ch được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bàn Thị Gh, sinh ngày 08/9/2008 và Bàn Phúc K, sinh ngày 06/02/2010, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Triệu Thị Nh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con; mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Bàn Tà Ch phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng )
̀ tiền án phi dân sự sơ thẩm . Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân sự sơ
́
́ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng theo biên lai số 0002480, ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Chi cu ̣c thi hành án dân sự huyện Bắc Hà.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Anh Bàn Tà Ch có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Triệu Thị Nh được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Lào Cai ; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bắc Hà; - CCTHADS huyện Bắc Hà; - UBND xã B; - Lưu HS;THS;VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Vàng Văn Thủy Dƣơng Thị Lan Anh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thọ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thọ |