vanban.org

Bản án 07/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Hồng T1 (do anh Nguyễn Văn M là người đại diện theo ủy quyền).

Buộc chị Nguyễn Thị Mộng T2 phải có nghĩa vụ trả cho ông Võ Hồng T1 số tiền vay là 30.000.000 đồng và tiền lãi là 7.719.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 37.719.000 đồng (ba mươi bảy triệu bảy trăm mười chín nghìn đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 18/4/2020 cho đến khi thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Võ Hồng T1 - Nguyễn Thị Mộng T2"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Hồng T1 (do anh Nguyễn Văn M là người đại diện theo ủy quyền).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2020/DS-ST
Ngày: 17/4/2020
“V/v tranh chấp về hợp đồng
dân sự - Vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Điệp.

2. Ông Trần Văn Bé Hai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 17 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 725/2019/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2019, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng dân sự - Vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35b/2020/QĐXXST-DS ngày 16/3/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16a/2020/QĐST-DS ngày 01/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Võ Hồng T1, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Ấp Tây Mỹ, xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.

Ông Võ Hồng T1 ủy quyền cho anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1994; địa chỉ ấp 5, xã Đốc Binh Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. (Theo Giấy ủy quyền ngày 07/11/2019)

- Bị đơn:

1. Nguyễn Thị Mộng T2, sinh năm 1972.

2. Trần Văn Út E, sinh năm 1972.

Cùng địa chỉ: Ấp 2, xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.

(Anh M có mặt; chị T2, anh Út Em vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Anh Nguyễn Văn M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 05 tháng 02 năm 2017, do chỗ quen biết nên ông T1 có cho vợ chồng chị T2 mượn số tiền 30.000.000 đồng, có làm biên nhận cùng ngày và hứa đến khi nào ông T1 cần số tiền trên thì thông báo trước một tháng thì vợ chồng chị T2 sẽ trả. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông T1 có gặp chút khó khăn trong công việc nên ông T1 có đến gặp vợ chồng chị T2 để lấy lại số tiền trên nhưng vợ chồng chị T2 chỉ hứa mà không thực hiện. Ông T1 nhận thấy vợ chồng chị T2 không có thiện chí trả số tiền trên cho ông nên ông mới làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án huyện Cao Lãnh giải quyết buộc chị Nguyễn Thị Mộng T2 và anh Trần Văn Út E phải liên đới trả cho ông số tiền nợ vốn là 30.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ tháng 02/2017 đến tháng 9/2019 là 31 tháng, lãi suất 1,66%/tháng với số tiền là 15.438.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 45.438.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, anh M là đại diện theo ủy quyền của ông T1 thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Anh M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Nguyễn Thị Mộng T2 phải trả cho ông T1 số tiền đã vay là 30.000.000 đồng và tiền lãi tính từ tháng 02/2017 đến tháng 9/2019 là 31 tháng x lãi suất 0,83%/tháng x 30.000.000 đồng = 7.719.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 37.719.000 đồng. Anh M không yêu cầu anh Trần Văn Út E cùng liên đới trả nợ với chị Nguyễn Thị Mộng T2 cho ông T1.

* Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho các bị đơn Nguyễn Thị Mộng T2, Trần Văn Út E theo quy định pháp luật nhưng các bị đơn không có văn bản ý kiến gì trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong quá trình tố tụng, cũng như tại phiên tòa hôm nay.

* Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho Tòa án:

- 01 biên nhận ngày 05/02/2017 (bản chính).

* Tài liệu, chứng cứ phía bị đơn cung cấp: Không có.

* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự đã thống nhất: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền vay và tiền lãi nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự - vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (sau đây gọi chung là Bộ luật Dân sự).

- Về thẩm quyền, Hội đồng xét xử xét thấy: Tranh chấp về hợp đồng dân sự - vay tài sản giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, địa chỉ của bị đơn là tại ấp 2, xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thời hiệu khởi kiện, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng vay giữa các đương sự được xác lập ngày 05/02/2017. Đến ngày 21/10/2019, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện, do đó thời hiệu khởi kiện vẫn còn theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, các bị đơn đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Xét thấy tại phiên tòa hôm nay, anh M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Võ Hồng T1 thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Nguyễn Thị Mộng T2 phải trả cho ông T1 số tiền đã vay là 30.000.000 đồng và tiền lãi tính từ tháng 02/2017 đến tháng 9/2019 là 31 tháng x lãi suất 0,83%/tháng x 30.000.000 đồng = 7.719.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 37.719.000 đồng. Anh M không yêu cầu anh Trần Văn Út E cùng liên đới trả nợ với chị Nguyễn Thị Mộng T2 cho ông T1. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của đại diện nguyên đơn là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không vượt phạm vi khởi kiện ban đầu và không vượt phạm vi ủy quyền của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi này và xác định việc giao dịch vay tiền trên do ông T1 thực hiện với chị T2, không liên quan đến anh Út Em.

Xét yêu cầu của anh Nguyễn Văn M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Võ Hồng T1: Theo Biên nhận ngày 05/02/2017 có nội dung “Tôi tên Nguyễn Thị Mộng T2 vào ngày 05/02/2017, tôi có mượn của chú Tặng số tiền là 30.000.000 triệu đồng chẳng” có ký tên và viết họ tên Nguyễn Thị Mộng T2; ngoài ra, trong quá trình tố tụng Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn Nguyễn Thị Mộng T2, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thông báo yêu cầu chị T2 giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ và bản khai nhưng chị T2 không có ý kiến phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản mà phía nguyên đơn cung cấp; cũng như không có mặt tại phiên tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định lời trình bày của phía nguyên đơn phù hợp với biên nhận ngày 05/02/2017 nên biên nhận ngày 05/02/2017 có giá trị chứng minh, vì vậy Hội đồng xét xử xác định việc bị đơn Nguyễn Thị Mộng T2 có vay của ông Võ Hồng T1 số tiền 30.000.000 đồng là có thật.

Về tiền lãi phía nguyên đơn yêu cầu lãi tính từ tháng 02/2017 đến tháng 9/2019 là 31 tháng x lãi suất 0,83%/tháng x 30.000.000 đồng = 7.719.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận định toàn bộ yêu cầu của anh Nguyễn Văn M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Võ Hồng T1 là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí:

Do yêu cầu của phía nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn Nguyễn Thị Mộng T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 429, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 26, 39, 92, 95, 147, 173, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Hồng T1 (do anh Nguyễn Văn M là người đại diện theo ủy quyền).

- Buộc chị Nguyễn Thị Mộng T2 phải có nghĩa vụ trả cho ông Võ Hồng T1 số tiền vay là 30.000.000 đồng và tiền lãi là 7.719.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 37.719.000 đồng (ba mươi bảy triệu bảy trăm mười chín nghìn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 18/4/2020 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị Mộng T2 phải chịu 1.885.000 đồng (một triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Võ Hồng T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại cho ông Võ Hồng T1 1.135.000 đồng (một triệu một trăm ba mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu số: BH/2018/0003627 ngày 02/12/2019 do anh Nguyễn Văn M nộp thay tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ