vanban.org

Bản án 07/2020/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Lê Văn S về việc yêu cầu chị Ngô Thị Tuyết L bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh tổng cộng các khoản là: 13.

2/ Về án phí: Anh Lê Văn S được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Sớm-Loan"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Lê Văn S về việc yêu cầu chị Ngô Thị Tuyết L bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh tổng cộng các khoản là: 13.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 170 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2020/DS-ST
Ngày 23-6-2020
“V/v tranh chấp dân sự về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp
đồng do sức khỏe bị xâm
phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thiệt Khá.

Bà Trương Thị Bé Sáu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyền là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Trương Ngọc Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 177/2019/TLST- DS ngày 18 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19 /2020/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn S, sinh năm 1978

Địa chỉ cư trú: ấp A, xã B, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn:

1. Chị Ngô Thị Tuyết L, sinh năm 1980

2. Anh Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ cư trú: khóm C, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1980.

Địa chỉ cư trú: ấp A, xã B, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 28 tháng 10 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm anh Lê Văn S trình bày: Vào ngày 23/8/2019 anh cùng vợ là T đi chợ cá thị xã H. Khi vào chợ cá thì bị gia đình Ngô Thị Tuyết M kiếm chuyện và hành hung vợ anh. Lúc đó, anh đứng bên lề đường thấy vậy nên anh dùng điện thoại ghi hình. Thấy anh ghi hình nên Ngô Thị Tuyết L la lên nó quay phim kìa qua đánh nó luôn. Sau đó, gia đình L đánh đá, hành hung anh trúng nhiều chỗ như: đầu, ngực, bụng. Nhờ những người bán hàng ở chợ can ngăn nên anh không bị đánh nữa. Sau khi bị đánh thì anh bị trọng thương nên đến Bệnh viện Đa khoa khu vực H để điều trị và đến Bệnh viện Đa khoa T để điều trị tiếp. Bác sĩ chuẩn đoán ngày 23/8/2019 là: Tổn thương tác động nhiều vùng cơ thể, không xếp loại nơi khác, đa thương tích (do bị đánh). Chi phí điều trị gồm:

- Phiếu chẩn đoán hình ảnh ngày 23/8/2019 là 64.200đ;

- Phiếu thu tiền thuốc ngày 25/8/2019 là 97.000đ;

- Phiếu thu tiền X Quang là 84.000đ;

- Phiếu thu tiền dịch vụ 0004276 là 200.000đ;

- Phiếu thu khám bệnh là 29.000đ;

- Phiếu thu XQKTS là 160.000đ;

- Phiếu thu Bệnh viện T số 3 là 70.000đ

- Chi phí khám bệnh nội trú chữa bệnh của Bệnh viện Đa khoa khu vực H là 420.419đ;

Tổng cộng là: 1.124.619đ (Một triệu, một trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm mười chín đồng).

Đồng thời, anh yêu cầu tiền công người bệnh và người nuôi bệnh 07 ngày là 7.000.000đ (mỗi ngày mỗi người là 500.000đ) và tiền tổn thất tinh thần là 5.000.000đ.

Do đó, tổng cộng các khoản anh yêu cầu anh T và chị L bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là: 13.124.610đ (Mười ba triệu, một trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm mười đồng).

Nay anh xin thay đổi một phần khởi kiện đối với anh Nguyễn Văn T vì người trực tiếp đánh anh là Ngô Thị Tuyết L, nên nay anh chỉ khởi kiện yêu cầu một mình Ngô Thị Tuyết L bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là: 13.124.610đ (Mười ba triệu, một trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm mười đồng).

- Bị đơn chị Ngô Thị Tuyết L trình bày: Nguyên sự việc xảy ra ngày 23/8/2019 chị và chồng là Nguyễn Văn T bán đồ tại Thị xã H thì bà T là vợ của ông Lê Văn S (tự là S) sinh năm 1978 tổ chức băng nhóm du đảng là C và N cầm hung khí để gây án cho chị tại lồng chợ có rất nhiều người nhìn thấy, anh T chồng chị hay sự việc nên chạy đến thì băng nhóm phan con dao vô chân anh T bị thương tích. T đến Công an phường A du khống nói vợ chồng chị đánh S là chồng T gây thương tích. Công an kêu T đưa ông S đến để Công an xem thương tích nhưng bà T và ông S không đến. Công an có đến tại nhà lồng chợ thị xã H để xác minh, người dân ở đây đều nói không ai đánh bà T và ông S chỉ có bà T và ông S tổ chức 02 người thanh niên cầm hung khí đến hành hung chị (L). Do đó, đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn S về việc yêu cầu vợ chồng chị bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 13.124.610đ thì vợ chồng chị không đồng ý vì chị và chồng chị không gây thương tích gì cho ông S. Chị khẳng định vợ chồng chị không yêu cầu phản tố cho đến khi kết thúc vụ kiện.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh thống nhất theo lời trình bày của vợ anh chị Ngô Thị Tuyết L về sự việc xảy ra vào ngày 23/8/2019 tại chợ Hồng Ngự. Anh không bổ sung gì thêm và cũng không yêu cầu phản tố cho đến khi kết thúc vụ kiện. Đối với việc ông S thay đổi một phần yêu cầu, không kiện anh nữa thì anh không có ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chị Nguyễn Thị T trình bày: Vào ngày 23/8/2019, gia đình Ngô Thị Tuyết L có điện thoại vào nhà chị với những lời lẽ đe dọa khi nào chị ra chợ thì đánh chị, lý do là chị em Tuyết L thiếu tiền hụi của chị mà không chầu. Do lo sợ bị đánh nên chị báo Công an phường A, sau đó Công an phường kêu cứ đi chợ bình thường có gì báo thì Công an đến giải quyết. Khi chị đi ra chợ thì bị Ngô Thị Tuyết L kiếm chuyện hành hung chị, lúc đó chồng chị là anh Lê Văn S thấy nên lấy điện thoại ra quay lại thì Ngô Thị Tuyết L lại xô chồng chị vào lô cá và đè chồng chị đánh vào lưng, vừa đánh vừa nói “ông S (S) quay phim, tôi đánh ông S luôn”, sau khi nghe tiếng thì chồng chị mới biết đó là Ngô Thị Tuyết L đánh. Nay chồng tôi là Lê Văn S khởi kiện yêu cầu Ngô Thị Tuyết L bồi thường thiệt hại về sức khỏe các khoản với tổng số tiền là 13.124.610đ. Chị thống nhất theo yêu cầu của chồng chị, riêng chị thì không yêu cầu hay tranh chấp gì với L hay người nào khác trong vụ kiện này. Chị cam kết không yêu cầu độc lập cho đến khi kết thúc vụ kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của anh Lê Văn S và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ pháp luật giữa các bên là tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe bị xâm phạm nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn xin vắng mặt, đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xét xử vắng mặt đương sự này. Vì vậy căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự nêu trên.

- Về việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện: Theo đơn khởi kiện anh Lê Văn S khởi kiện chị Ngô Thị Tuyết L và anh Nguyễn Văn T cùng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh tổng cộng các khoản là: 13.124.610đ (Mười ba triệu, một trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm mười đồng). Tuy nhiên, sau đó anh S tự thay đổi một phần khởi kiện đối với anh Nguyễn Văn T vì anh cho rằng người trực tiếp đánh anh là chị Ngô Thị Tuyết L, nên anh chỉ khởi kiện yêu cầu một mình chị Ngô Thị Tuyết L bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là: 13.124.610đ (Mười ba triệu, một trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm mười đồng). Xét thấy, việc thay đổi một phần khởi kiện của anh S là tự nguyện, không ai ép buộc, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

[2] Về nội dung vụ án: Xuất phát từ việc mâu thuẫn trong vấn đề chơi hụi giữa chị L và chị T (vợ anh S) nêu vào ngày 23/8/2019 tại chợ H xảy ra cự cải giữa hai bên. Trong quá trình hai bên lời qua tiếng lại, anh S cho rằng lúc đó anh có cầm điện thoại trên tay, L tưởng anh quay phim nên nhào lại dùng tay không đánh anh trúng vào lưng nhiều cái gây thương tích phải đi bệnh viện điều trị. Chị L thì không thừa nhận có đánh anh S mà cho rằng anh S còn tổ chức nhiều người gây thương tích cho vợ chồng chị.

[3] Xét thấy chứng cứ anh Lê Văn S cung cấp cho Tòa án là bảng kê chi phí khám, chữa bệnh, đơn thuốc và các phiếu thu tính tiền. Anh S không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh anh bị chị L đánh. Sau khi sự việc xảy ra, không có biên bản hiện trường do cơ quan chuyên môn lập, anh S cũng không cung cấp được người làm chứng nào có chứng kiến sự việc anh bị đánh. Căn cứ vào các tài liệu Tòa án thu thập được tại Công an phường A thể hiện đến ngày 16/9/2019 Công an mời đến làm việc, anh Lê Văn Scó đơn không yêu cầu xử lý hình sự, không có biên bản nào thể hiện chị Ngô Thị Tuyết Lđánh anh Lê Văn S gây thương tích đến mức phải đi bệnh viện điều trị. Tại Công an phường chị L khai bị Hồ Nhựt C đánh bằng tay, hai bên cũng được cơ quan Công an làm việc và hòa giải xong, chị L không yêu cầu gì đối với C, nên không xem xét. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm anh Lê Văn S không cung cấp được tài liệu, cứng cứ gì chứng minh thương tích của anh đi điều trị tại Bệnh viện là do chị Ngô Thị Tuyết Ldùng tay không đánh anh. Do đó, không chấp nhận yêu cầu bồi thường về sức khỏe của anh. Do yêu cầu bồi thường về sức khỏe không được chấp nhận, nên các yêu cầu khác cũng không được chấp nhận.

[4] Về án phí: Anh Lê Văn S được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5]Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn S và không kiến nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 170, Điều 584, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 6 Điều 26, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Lê Văn S về việc yêu cầu chị Ngô Thị Tuyết L bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh tổng cộng các khoản là: 13.124.610đ (Mười ba triệu, một trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm mười đồng).

2/ Về án phí: Anh Lê Văn S được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ