vanban.org

Bản án 07/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 27/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân C phạm tội trộm cắp tài sản.

2/ Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Trả lại cho chị Hoàng Thị Mỹ P xe mô tô hiệu YAMAHA, loại SIRIUS RC màu đỏ đen, số máy E3X9E515125, số khung 3240JY190919, BKS 73B1-307.33, chứng nhận đăng ký tên chủ xe Hoàng Xuân C do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Xuân C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân C phạm tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
HUYỆN LỆ THUỶ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2019/HSST
Ngày 27 - 02 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Trung Tuân và ông Lê Quang Thạch

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Lê Phan Lộc Nhung, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2019/TLST-HS ngày 17/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-HS ngày 13/02/2019 đối với bị cáo:

Hoàng Xuân C, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1972 tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Tổ dân phố 5, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hoá: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B (đã chết) và bà Hoàng Thị T (đã chết). Vợ Phạm Thị N (đã ly hôn), Phan Thị Thanh N (đã ly hôn) và 03 con, lớn nhất sinh 1993, nhỏ nhất sinh 2007. Tiền sự: Không. Tiền án: Có 05 tiền án: Ngày 22/01/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; Ngày 17/8/2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt của bản án trước, buộc bị cáo chấp hành hai bản án 24 tháng tù; Ngày 01/7/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 11/5/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 28/3/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 36 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 16/8/2018;

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lệ Thủy từ ngày 06/11/2018 cho đến nay, có mặt. Bị hại: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1982, địa chỉ: Thôn 1 T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Hoàng Thị Mỹ P, sinh năm 1993, địa chỉ: Khu phố 2, phường I, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 06/11/2018, Hoàng Xuân C điều khiển xe mô tô BKS 73B1-307.33 lưu thông trên Quốc lộ 1A theo hướng Bắc – Nam, khi đến địa phận xã T, huyện L, Cung vào quán tạp hóa V của chị Nguyễn Thị L để mua hàng. Lợi dụng lúc chị L đang quay lưng lấy hàng ở tủ kính đặt phía trong quầy, C thấy cửa kính của một tủ khác không khóa, bên trong có một cái ca đựng các xấp card điện thoại di động được buộc bằng dây chun, C lén lút lấy trộm 01 xấp card gồm 09 thẻ card mạng Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng, 34 thẻ card Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng, 16 thẻ card mạng Viettel mệnh giá 100.000 đồng, 10 thẻ card mạng Mobifone mệnh giá 100.000 đồng bỏ vào túi quần bên phải, C thanh toán tiền hàng rồi điều khiển xe mô tô BKS 73B1-307.33 rời khõi quán. Khi phát hiện mất tài sản, chị L đã đuổi theo bắt giữ C cùng toàn bộ tang vật.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lệ Thủy đã tạm giữ 09 thẻ card mạng Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng, 34 thẻ card Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng, 16 thẻ card mạng Viettel mệnh giá 100.000 đồng, 10 thẻ card mạng Mobifone mệnh giá 100.000 đồng ; 01 xe mô tô hiệu YAMAHA, loại Sirius RC màu đỏ đen, BKS 73B1-307.33.

Ngày 06/11/2018, Phòng bán hàng thuộc Trung tâm kinh doanh VNPT Quảng Bình xác nhận 09 thẻ Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng, 34 thẻ Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng Nguyễn Xuân C trộm cắp do Phòng bán hàng L quản lý, đã được kích hoạt và có giá trị lưu hành. Ngày 09/11/2018, Công ty dịch vụ Mobifone Quảng Bình xác nhận 10 thẻ Mobifone mệnh giá 100.000 đồng Nguyễn Xuân C trộm cắp đã được kích hoạt và còn giá trị lưu hành. Ngày 21/12/2018, Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel, Chi nhánh Quảng Bình xác nhận 16 thẻ Viettel mệnh giá 100.000 đồng Nguyễn Xuân C trộm cắp do nhà mạng Viettel phát hành và có giá trị lưu hành. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Xuân C chiếm đoạt là 4.180.000đ (Bốn triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).

Ngày 07/11/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lệ Thuỷ đã trả lại toàn bộ thẻ card trên cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L. Đối với xe mô tô hiệu YAMAHA, Loại Sirius RC màu đỏ đen, BKS 73B1-307.33 tiếp tục tạm giữ.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm.

Bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSNDLT ngày 17/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ truy tố bị cáo Hoàng Xuân C tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Xuân C từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại xe mô tô hiệu YAMAHA, loại Sirius RC màu đỏ đen, BKS 73B1-307.33 cho chị Hoàng Thị Mỹ P.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không được học hành đến nơi đến chốn, bị cáo ăn năn hối hận, bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Xuân C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tang vật vụ án đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Bị cáo Hoàng Xuân C lợi dụng sơ hở, chủ quan của người khác đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là những chiếc thẻ card điện thoại tại của hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị L; theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lệ Thuỷ có tổng trị giá 4.180.000đ (Bốn triệu một trăm tám mươi nghìn đồng). Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: Tại Bản án số 42/2016/HSPT ngày 28/3/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt bị cáo Hoàng Xuân C 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2015; ngày 16/8/2018 chấp hành xong hình phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 422/GCN của Giám thị Trại giam Đồng Sơn; ngày 06/11/2018, Hoàng Xuân C có hành vi trộm cắp card điện thoại trị giá 4.180.000 đồng tại thôn 1 T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội về tội trộm cắp tài sản thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là thanh niên trưởng thành, có sức khoẻ nhưng lười lao động, đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Mặc dù bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo có 05 tiền án thể hiện nhân thân không tốt, bị cáo mới chấp hành xong hình phạt của bản án trước lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm thể hiện ý thức không chịu rèn luyện tu dưỡng và coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội của địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khõi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, răn đe bị cáo và giáo dục, phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lệ Thủy đã trả lại toàn bộ thẻ card Hoàng Xuân C lấy trộm cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L phù hợp với Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với xe mô tô hiệu YAMAHA, loại SIRIUS RC màu đỏ đen, số máy E3X9E515125, số khung 3240JY190919, BKS 73B1-307.33, chứng nhận đăng ký tên chủ xe Hoàng Xuân C do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 15/10/2018 bị cáo sử dụng ngày 06/11/2018 là của chị Hoàng Thị Mỹ P (con gái của bị cáo) mua và nhờ bị cáo đứng tên nên cần trả lại cho chị P theo nguyện vọng của chị P, phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Xuân C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ vào Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân C phạm tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Xuân C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (06/11/2018). Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Xuân C với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

2/ Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Trả lại cho chị Hoàng Thị Mỹ P xe mô tô hiệu YAMAHA, loại SIRIUS RC màu đỏ đen, số máy E3X9E515125, số khung 3240JY190919, BKS 73B1-307.33, chứng nhận đăng ký tên chủ xe Hoàng Xuân C do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 15/10/2018.

3/ Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Hoàng Xuân C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (27/02/2019); đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ