vanban.org

Bản án 07/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Tuyên án 05/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Hoàng S (tên gọi khác: Lượm) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Hoàng S (tên gọi khác: Lượm) 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/11/2018 đến ngày 06/12/2018. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 lưỡi dao lam có dòng chữ BIC và CHROME PLATINUM. Vật chứn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "S phạm tội trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Hoàng S (tên gọi khác: Lượm) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2019/HS-ST.
Ngày 05-4-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hiền;

Bà Lê Ngọc Kiều.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện U xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Hoàng S; tên gọi khác: Lượm; sinh năm 1996 tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: ngư phủ; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thanh H và bà Lê Thanh H1; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 30/11/2018 đến ngày 06/12/2018 được cho tại ngoại; bị cáo có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Thanh D, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 29/10/2019 khi đến xã K, huyện U tìm bạn nhưng không gặp bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp do hết tiền tiêu xài, bị cáo mua một lưỡi lam để làm công cụ. Đến khoảng 01 giờ 30 phút sáng ngày 30/11/2018, bị cáo đi đến khu vực ấp 16, xã K, huyện U mở cửa sau vào nhà anh Trần Thanh D lấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, dùng lưỡi lam rạch mùng ngủ lấy 02 chiếc điện thoại di động (01 chiếc hiệu Mobistar màu vàng đồng và 01 chiếc hiệu Mobell màu đen); vào khu vực buồng ngủ dùng lưỡi lam rách mùng lấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Neoson màu xanh, đen và 01 ví da để trên đầu nằm. Sau đó, bị cáo bỏ lại lưỡi dao lam ở trên ghế gần đó rồi đi ra khu vực nhà sau kiểm tra ví da, thấy bên trong ví có số tiền 300.000 đồng và một số giấy tờ, bị cáo lấy giấy tờ bỏ lại.

Sau khi lấy 04 chiếc điện thoại và 300.000 đồng, bị cáo S tiếp tục đi bộ theo tuyến lộ U – Cà Mau để chờ Lê Minh T (là người chạy xe ôm ở phường 8, thành phố Cà Mau) rước. Lúc lên xe của T, bị cáo S đưa chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng nhờ T giữ giùm. Khi T chở S đến phường 1, thành phố Cà Mau thì bị lực lượng 113 – Công an tỉnh Cà Mau tuần tra phát hiện và mời về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Kết luận định giá số 35/KL-HĐĐG ngày 30/11/2018 xác định tổng giá trị của 04 chiếc điện thoại di động mà S trộm có giá 4.570.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung số imel: 357935060920507; 01 điện thoại di động hiệu Mobistar Laizoro 2 số imel: 357250421230194; 01 điện thoại di động hiệu Neoson model Gt3521 số imel: 868437020398702; 01 điện thoại di động hiệu Mobell S30 số imel: 510101600057672. 01 ví da màu đen bên trong có chứa 300.000 đồng, gồm các mệnh giá: 01 tờ 100.000đ; 01 tờ 50.000đ; 17 tờ 5.000đ; 17 tờ 2.000đ; 28 tờ 1.000đ; 06 tờ 500đ. Các vật chứng trên đã trả lại cho bị hại Trần Thanh D.

- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 1280 số imel: 355133/00/21049618; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu xanh – đen – bạc, biển số 69B1-33069. Đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Lê Minh T.

- 01 điện thoại di động hiệu Goldberg B102 số imel: 352286090607572; 01 điện thoại di động hiệu Forme N1 số imel: 356981077257260. Đã trả lại cho bị cáo Trương Hoàng S.

- 01 lưỡi dao lam có dòng chữ BIC và CHROME PLATINUM. Vật chứng này hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện U quản lý.

Quá trình điều tra, bị hại Trần Thanh D đã nhận lại các tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu về trách nhiệm bồi thường dân sự đối với bị cáo Trương Hoàng S (BL 101).

Tại phiên tòa bị cáo Trương Hoàng S thừa nhận nội dung Cáo trạng nêu trên là đúng với hành vi của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 21/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Trương Hoàng S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử về tội danh và hình phạt đối với bị cáo như sau: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Hoàng S từ 06 tháng đến 09 tháng tù; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng 01 lưỡi dao lam có dòng chữ BIC và CHROME PLATINUM. Bị cáo S phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Lời nói sau cùng bị cáo Trương Hoàng S xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện U, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 30/11/2018, lợi dụng lúc đêm khuya, bị cáo Trương Hoàng S đã thực hiện hành vi lén lút vào nhà của anh Trần Thanh D trú tại ấp 16, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau chiếm đoạt tài sản của anh D gồm 04 chiếc điện thoại di động, được Hội đồng định giá xác định giá trị 04 điện thoại tổng cộng 4.570.000 đồng và số tiền 300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo S đã chiếm đoạt là 4.870.000 đồng.

Bị cáo S đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do muốn nhanh chóng có tiền chi xài mà không phải lao động mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác một cách trái pháp luật, hành vi này đã phạm tội trộm cắp tài sản được Bộ Luật hình sự quy định, do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện U truy tố bị cáo Trương Hoàng S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Về nhân thân, bị cáo S có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản sau khi trộm đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu thuộc trường hợp phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng cho bị cáo.

Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Qua xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập, giáo dục thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

Đối với Lê Minh T, quá trình điều tra xác định T không phải là đồng phạm của bị cáo, khi bị cáo gửi điện thoại nhờ T giữ giùm, T không biết đó là tài sản do S trộm cắp mà có, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U không xử lý hình sự là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu giữ và trả cho bị hại. Bị hại không yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo và vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng đã thu giữ là 01 lưỡi dao lam có dòng chữ BIC và CHROME PLATINUM, xét thấy vật chứng nêu trên không còn giá trị sử dụng và là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Trương Hoàng S (tên gọi khác: Lượm) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Trương Hoàng S (tên gọi khác: Lượm) 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/11/2018 đến ngày 06/12/2018.

- Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 lưỡi dao lam có dòng chữ BIC và CHROME PLATINUM. Vật chứng hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự huyện U quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/02/2019.

- Buộc bị cáo Trương Hoàng S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ