- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Cướp T sản”
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT Bản án số: 07/2019/HS-ST. Ngày: 12/03/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đoạt
Ông Vũ Đức Kiểu
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Phúc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Thắng- Kiểm sát viên.
Trong ngày12 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Võ Văn T - Sinh năm: 1983
Nơi cư trú: ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Quốc ti ̣ch : Viê ̣t Nam ; Dân tô ̣c : Kinh; Giớ i tinh : Nam;Tôn giáo : Không;
́ Trình độ văn hóa : lớp 6/12; Nghề nghiê ̣p: Làm thuê; Con ông: Võ Văn S - sinh năm 1954 và bà Lê Thị H - sinh năm: 1954; Anh (chị) em ruô ̣t: gồm 06 ngườ i, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1996, bị cáo là người con thứ hai trong gia đinh; Bị cáo chưa có vợ, con. ̀
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2018 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại: - Anh Lê Hữu P – sinh năm 1987 (Có mặt)
Nơi cư trú: ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang
- Ông Bùi Như Y – Sinh năm 1974 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
- Anh Nguyễn Thành T - Sinh năm 1987 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
- Anh Cao Quốc V – Sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang
- Anh Dương Văn P –Sinh năm 1987 (vắng mặt)
- Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 27/7/2017, Võ Văn T tổ chức chơi lắc T xỉu ăn thua bằng tiền mặt tại trại ruộng thuộc ấp Kiên Hảo, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (trại ruộng không có ai trông coi). Tham gia chơi có Bùi Như Y, Nguyễn Thành T, Lê Hữu P, Cao Quốc V, Dương Văn P, Hồ Trọng N. Quá trình lắc T xỉu, T là người làm cái và bị thua hết 14 triệu đồng. Kiểm tra hột T xỉu, T phát hiện hột T xỉu có lỗ thủng nên nghi ngờ nhóm của P chơi gian lận làm T bị thua tiền,nên nảy sinh Y định chiếm đoạt lại số tiền đã bị thua.
Đến ngày 28/7/2017, T (chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) đến nhà T chơi. T kể lại sự việc thua bạc và rủ T đi đòi lại số tiền đã thua, T không đồng Y nhưng T nói không có đánh nhau thì T đồng Y tham gia. Sau đó, T gọi điện rủ Bùi Như Y, Nguyễn Thành T, Lê Hữu P, Cao Quốc V, Dương Văn P, Hồ Trọng N, Vũ Văn H đến trại ruộng đểvchơi T xỉu ăn thua bằng tiền.
Đến khoảng 19 giờ ngày 28/7/2017, T và T mỗi người chạy một xe mô tô đến trại ruộng, khi đi T mang theo một con dao, (loại dao yếm dài khoảng 40 cm, cán bằng gỗ hình tròn) còn T mang theo một thanh sắt dài khoảng 01 m, một đầu nhọn. Khi đến trại ruộng, T giấu con dao trước trại ruộng rồi vào trại ruộng chờ nhóm P còn T đứng bên ngoài. Khi nhóm P, Y, T, V, P, N, H đến nơi chuẩn bị chơi bạc thì T đi ra ngoài lấy con dao đi vào trong trại ruộng còn T cầm thanh sắt đứng chặn ở cửa trại ruộng. T cầm dao nói với nhóm P: “Mấy đứa mày đưa hết tiền cho tao, không tao chém chết”. P nghe vậy thì nói với T: “Tao không có tiền”. T liền cầm dao chém P một nhát từ trên xuống, P giơ hai tay lên đỡ thì bị T chém trúng vào cổ tay trái và cánh tay phải gây thương tích. Sau đó T tiếp tục cầm dao đe dọa những người còn lại đưa tiền cho T. T đưa số tiền 7.080.000 đồng, P đưa số tiền 110.000 đồng, V đưa số tiền 1.500.000 đồng, Y đưa số tiền 310.000 đồng. Lúc này N đã đi ra ngoài nên T không chiếm đoạt T sản của N còn H không tham gia đánh bạc vào ngày 27/7/2017 nên T không lấy T sản của H. Sau khi chiếm đoạt T sản, T và T chạy xe bỏ trốn còn P được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang từ ngày 28/7/2017 đến ngày 04/8/2017 thì xuất viện.
Sau khi gây án, T và T đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 06/7/2018, T bị bắt theo quyết định tuy nã.
* Về vật chứng vụ án, sau khi gây án Võ Văn T đã vứt hung khí là con dao yếm xuống kênh 10 thuộc ấp Kiên Hảo, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được. Đối với chiếc xe mô tô mà T đã dùng làm phương tiện để đi gây án, trong thời gian bỏ trốn khỏi địa phương T đã bán lấy tiền tiêu xài không thu giữ được.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 116/KL – PY ngày 09/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang, kết luận thương tích của Lê Hữu P như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo xơ cứng tay phải và cổ tay trái.
- Tổn thương dây thần kinh trụ bên trái gần hoàn T, hiện tại còn hạn chế vận động ngón 5.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 28% (hai mươi tám phần trăm).
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS, ngày 15/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Cướp T sản” theo điểm c khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm ckhoản 2 Điều 168; các điểm b,s khoản 1Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáoVõ Văn T từ 04 năm đến 05 năm tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Lê Hữu P yêu cầu Võ Văn T bồi thường tiền thuốc điều trị và các khoản chi phí khác số tiền 39.402.000 đồng. T đã bồi thường khắc phục xong hậu quả. Lê Hữu P đã làm đơn bãi nại cho T. Nguyễn Thành T, Cao Quốc V, Bùi Như Y, Dương Văn P không có yêu cầu bồi thường và đã làm đơn bãi nại cho T. Tại phiên tòa các bị hại không có yêu cầu gì khác nên đề nghị HĐXX miễn xét.
Đối với đối tượng tên T (chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể), sau khi gây án đã bỏ đi khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi lắc T xỉu ăn thua bằng tiền theo lời khai của Võ Văn T cùng với Lê Hữu P, Bùi Như Y, Nguyễn Thành T, Dương Văn P, Hồ Trọng N và Cao Quốc V không đủ căn cứ xử lý hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất đã thông tin cho chính quyền địa phương quản lý là phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn T thừa nhận T bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố được công bố tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo trình bày quá trình bị tạm giam đã ăn ăn hối H về hành vi phạm tội của mình, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nH định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hòn Đất, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có Y kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng mà viện kiểm sát đã truy tố như sau: Vào khoảng 19 giờ ngày 28/7/2017, tại ấp Kiên Hảo, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, Võ Văn T đã có hành vi dùng dao yếm đe dọa buộc Lê Hữu P đưa tiền cho T, do P không đưa tiền nên T đã dùng dao yếm chém một nhát trúng vào cổ tay trái và cánh tay phải của P gây thương tích làm tổn hại 28% sức khỏe. Sau đó, T tiếp tục dùng dao yếm đe dọa buộc Cao Quốc V, Bùi Như Y, Dương Văn P và Nguyễn Thành T đưa cho T số tiền 9.000.000 đồng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người bị hại, các T liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Võ Văn T đã phạm tội “ Cướp T sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 168 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo
̀ trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất đã truy tố bị cáo là hoàn T có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáolà nguy hiểm cho xã hội, bịcáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi và trí tuệ nên phải biết rằng, T sản của người khác được pháp luật bảo vệ, nghiêm cấm ai có hành vi xâm phạm T sản của người khác một cách trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm. Tuy nhiên với Y thức xem thường pháp luật, bị cáo đã có hành vi dùng dao uy hiếp và chém anh P gây tổn thương có thể 28% và tiếp tục dùng dao uy hiếp anh Cao Quốc V, Bùi Như Y, Dương Văn P và Nguyễn Thành T để cướp tổng số tiền 9.000.000 đồng của những người bị hại.Hành động phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, quyền sở hữu T sản hợp pháp của người khác mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, bị quần chúng nhân dân lên án mạnh mẽ, Hội đồng xét xử cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm nhằm có thời gian cải tạo giáo dục bị cáo và cũng nhằm mục đích răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáokhông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáođã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;sau khi sự việc xảy ra đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại Lê Hữu P gồm tiền thuốc điều trị và các khoản chi phí khác với số tiền 39.402.000đ, được anh Lê Hữu P làm đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHSđể giảm nhẹ cho bị cáo. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Hữu P yêu cầu Võ Văn T bồi thường tiền thuốc điều trị và các khoản chi phí khác số tiền 39.402.000 đồng, T đã bồi thường khắc phục xong cho anh P được anh P đã làm đơn bãi nại, tại phiên tòa anh P không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác, đối với Nguyễn Thành T, Cao Quốc V, Bùi Như Y, Dương Văn P không có yêu cầu bồi thường và đã làm đơn bãi nại cho Tnên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về vật chứng vụ án, sau khi gây án Võ Văn T đã vứt hung khí là con dao yếm xuống kênh 10 thuộc ấp Kiên Hảo, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được, đối với chiếc xe mô tô mà T đã dùng làm phương tiện để đi gây án, trong thời gian bỏ trốn khỏi địa phương T đã bán lấy tiền tiêu xài nên không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng là phù hợp quy định của pháp luật nên được hội đồng xét xử chấp nH.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứđiểm c khoản 2 Điều 168; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
̀
1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Cướp T sản”
Xử phạt bị cáo Võ Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2018.
2.Về án phí: áp dụng khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH quy định về lệ phí án phí Tòa án;
Buộc bị cáo Võ Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:Báo cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nH:
| - VKSND tỉnh Kiên Giang -VKSND huyện Hòn Đất -Cơ quan CSĐT CA huyện Hòn Đất - Nhà tạm giữ CA huyện Hòn Đất - Chi cục THA DS huyện Hòn Đất - Sở Tư pháp - Bị cáo; bị hại - Lưu hồ sơ vụ án; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Tấn |