vanban.org

Bản án 07/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Tuyên án 22/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 26/10/2018. (Vật chứng hiện chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN NGỌC T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung công quỹ Nhà nước
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2019/HS-ST
Ngày: 22-01-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Cao

2. Ông Nguyễn Hoàng Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2018/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T, tên gọi khác: Gốc, sinh năm 1988 tại Long An. ĐKTT: Ấp 4, xã B, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Hồ Thị Bé H (đã chết); bản thân chưa có vợ; Tiền án; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2018 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Huỳnh Minh N, sinh năm 1977

ĐKTT: Ấp 5, xã B, huyện B, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Dương Văn H, sinh năm 1975

ĐKTT: Ấp 6, xã T, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

2. Nguyễn Tấn H, sinh năm 1992

ĐKTT: Ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tạm trú: Khu phố 2, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

- Người làm chứng:

Nguyễn Long A, sinh năm 1984

ĐKTT: Ấp 4, xã B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 29/6/2018, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe mô tô hiệu FX, biển số 52N5-7196 đến nhà Dương Văn H, địa chỉ: Ấp 6, xã B, huyện B. Tại đây, T uống rượu chung H, Huỳnh Minh N, T, Th, Đ (không rõ tên, địa chỉ) đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T chạy về nhà. Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 30/6/2018, T chạy xe đến nhà anh H, thấy H và N nằm ngủ giữa nền nhà. T phát hiện trong túi trước quần Jean N đang mặc để lộ điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J3 nên nảy sinh ý định trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài. T quan sát xung quanh không có người, đi đến chỗ anh N dùng tay trái lấy điện thoại di động Samsung Galaxy J3 trong túi quần anh N bỏ vào túi quần đi ra ngoài. T điều khiển xe 52N5-7196 chạy đến tiệm sửa chữa điện thoại “Minh Quân” địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn B do anh Nguyễn Tấn H làm chủ, T thuê H mở khóa mật khẩu với số tiền 150.000 đồng, H hẹn đến khoảng 16 giờ lấy, T đồng ý và để điện thoại lại cho H rồi điều khiển xe đến nhà Nguyễn Long An ở ấp 4, xã B, huyện B chơi. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, N phát hiện mất điện thoại di động, nghi ngờ T lấy nên đi tìm gặp T tại nhà A. Tại đây, T thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Sau đó, H tố giác đến Công an xã B, huyện B lập hồ sơ ban đầu, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 22 ngày 03/7/2018, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Lức định giá điện thoại di động Samsung Galaxy J3, trị giá 2.694.000đ.

Tại cáo trạng số 02/CT-VKSBL ngày 06-12-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc T hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không oan, xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo.

Theo lời khai tại cơ quan điều tra bị hại anh Huỳnh Minh N trình bày: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 30/6/2018 anh tổ chức nhậu đến khoảng 22 giờ, anh điều khiển xe mô tô chạy đến nhà anh H, anh H và T tiếp tục nhậu đến khoảng 01 giờ ngày 01/7/2018 thì nghỉ, do say rượu nên anh và T ngủ lại nhà H. Đến khoàng 08 giờ sáng anh tỉnh dậy thì phát hiện bị mất điện thoại di động Samsung Galaxy J3 nên anh hỏi thăm mọi người trong nhà nhưng không ai thấy điện thoại của anh, sau đó anh điều khiển xe đi tìm T hỏi có lấy điện thoại của anh không T nói có và đem điện thoại đi bẻ khóa rồi nên anh trình báo công an. Sau khi sự việc xảy ra, anh đã nhận lại tài sản bị mất, hiện không có yêu cầu gì thêm về dân sự, về trách nhiệm hình sự anh yêu cầu không xử lý hình sự đối với T vì hoàn cảnh gia đình T rất khó khăn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 như cáo trạng của viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo là đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo mới phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 06 sáu tháng đến 09 tháng tù.

Do hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đối với Nguyễn Tấn H có hành vi giúp T mở khóa mật khẩu điện thoại nhưng do H không biết tài sản do T trộm cắp có được nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bến Lức không xử lý hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Huỳnh Minh N đã nhận lại tài sản bị mất, hiện không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét đến.

Về vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J3 do Nguyễn Tấn H giao nộp, hiện đã trả lại cho chủ sở hữu Huỳnh Minh N là phù hợp nên không xét đến.

- 01 xe mô tô hiệu FX, biển kiểm soát 52N5-7196 của Nguyễn Ngọc T qua xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, không tìm thấy dữ liệu tra cứu. Qua điều tra T khai mua của người khác không rõ tên và địa chỉ, chưa làm thủ tục sang tên bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp nên đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch sung công quỹ Nhà nước.

(Vật chứng hiện chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo xác định cáo trạng truy tố bị cáo là không oan sai bị cáo không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Lức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản định giá tài sản, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định xuất phát từ việc không tiền tiêu xài nên vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 30/6/2018, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe mô tô hiệu FX, biển kiểm soát 52N5-7196 đến nhà Dương Văn H tại ấp 6, xã B, huyện B chơi, lúc này thấy Huỳnh Minh N nằm ngủ để lộ điện thoại di động Samsung Galaxy J3, trị giá 2.694.000đ trong túi quần Jean. T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, quan sát xung quanh không có người, T lén lút lấy điện thoại di động bỏ vào túi rồi chạy xe về. Sau đó T đem điện thoại đến tiệm Minh Quân, địa chỉ khu phố 2, thị trấn Bến Lức thuê Nguyễn Tấn H mở khóa mật khẩu. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày thì N phát hiện nên làm đơn tố giác hành vi phạm tội của T đến Công an xã B, huyện B qua làm việc bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi lấy cắp điện thoại trên như vậy đã đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, do đó Cáo trạng Viện kiểm sát huyện Bến Lức truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, lợi dụng sự sơ hở của người khác bị cáo đã lén lút lấy lấy trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự địa phương. Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả của vụ án cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, xét thấy theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Tấn H có hành vi giúp T mở khóa mật khẩu điện thoại nhưng do H không biết tài sản do T trộm cắp có được nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bến Lức không xử lý hình sự là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Huỳnh Minh N đã nhận lại tài sản bị mất là 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J3, anh N không có yêu cầu gì thêm nên không xét đến.

Về vật chứng:

- 01 xe mô tô hiệu FX, biển kiểm soát 52N5-7196 của Nguyễn Ngọc T qua xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, không tìm thấy dữ liệu tra cứu. Qua điều tra T khai mua của người khác không rõ tên và địa chỉ, chưa làm thủ tục sang tên, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận là bị cáo sử dụng xe làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

(Vật chứng hiện chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Ngọc T 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 26/10/2018.

2. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc T trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 16-01-2019 để đảm bảo thi hành án.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô hiệu FX, biển kiểm soát 52N5-7196.

(Vật chứng hiện chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).

4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ