- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Th-Nguyễn Hữu T"
- Tòa quyết gì? 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2019/HNGĐ-ST Ngày: 15-5-2019 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hiến
2. Bà Lê Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân thị
xã Ninh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Mỹ Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa,
tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 15/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Th, sinh năm 1993;
Nơi cư trú: Thôn Tân Mỹ, xã Ninh Xuân, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh
Hòa; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1993;
Nơi cư trú: Thôn Phước Lâm, xã Ninh Xuân, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh
Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Đặng Thị Th trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hữu T kết hôn với nhau năm 2014 được UBND xã
Ninh Xuân cấp giấy chứng nhận kết hôn số 57/2014 ngày 24/7/2014. Quá trình chung sống ông bà có với nhau một con chung là Nguyễn Ngọc Anh Th1, sinh ngày 04/02/2015.
Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do ông T không quan tâm chăm
sóc con, thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn về nhà có những lời nói thô tục, vợ chồng không sống chung với nhau từ tháng 02/2015 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Hữu T.
Về con chung: Hiện nay cháu Nguyễn Ngọc Anh Th1 do ông Nguyễn
Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng nên bà tự nguyện giao con chung tên Nguyễn Ngọc Anh Th1, sinh ngày 04/02/2015 cho ông Nguyễn Hữu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Bà không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài
sản chung và xác định không có nợ chung với ông T.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không
có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đặng Thị Th vẫn giữ nguyên nội dung khởi
kiện, yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hữu T; về con chung: Bà Đặng Thị Th đồng ý giao con chung là Nguyễn Ngọc Anh Th1, sinh ngày 04/02/2015 cho ông Nguyễn Hữu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Th tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng; về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông T.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia
phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã chấp hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, công khai đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn
của nguyên đơn; về con chung: đề nghị giao con chung là Nguyễn Ngọc Anh Th1, sinh ngày 04/02/2015 cho ông Nguyễn Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành; bà Th tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận; về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và xác định không có nợ chung với bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Hữu T mặc dù đã được Tòa
án tống đạt Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt ông T theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn
yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Hữu T hiện cư trú tại: Thôn Phước Lâm, xã Ninh Xuân, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình và Th1ộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Th và ông Nguyễn Hữu T kết hôn
trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Xuân, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 57/2014 ngày 24/7/2014 vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Qua lời trình bày của bà Đặng Thị Th, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn
nhân phải trên cơ sở tự nguyện, giữa vợ chồng có sự yêu Th, chăm sóc lẫn nhau, tuy nhiên quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông T không hạnh phúc do có nhiều mâu Th1ẫn. Nguyên nhân mâu Th1ẫn là do ông T không chăm lo cuộc sống gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn về nhà có những lời nói thô tục, vợ chồng không sống chung với nhau từ tháng 02/2015 cho đến nay, bà Th khẳng định không còn tình cảm với ông T nên xin ly hôn. Mặt khác, trong suốt quá trình tố tụng, ông T cố tình vắng mặt không đến Tòa, điều này đủ cơ sở xác định ông T không còn quan tâm đến bà Th. Như vậy, mục đích hôn nhân của bà Th, ông T không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của bà Th là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về con chung: Theo tài liệu giấy khai sinh và lời khai của bà Th thì có
một con chung tên Nguyễn Ngọc Anh Th1, sinh ngày 04/02/2015, bà Th tự nguyện giao con chung cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như bảo đảm sự phát triển toàn diện và cuộc sống ổn định cho cháu Thư, hiện tại cháu Thư cũng đang sống với ông T. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét nên giao cháu Thư cho ông T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đặng Thị Th tự nguyện cấp
dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng, xét sự tự nguyện của bà Th là không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th không yêu cầu giải quyết tài sản
chung và xác định không có nợ chung với ông T nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Đặng Thị Th phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân
gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm cho nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thị xã Ninh Hòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều
82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức Th1, miễn, giảm, Th1, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Th.
1.1. Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Th được ly hôn ông Nguyễn Hữu T.
1.2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Anh Th1, sinh ngày
04/02/2015 cho ông Nguyễn Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Đặng Thị Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Ngọc Anh Th1 tròn 18 tuổi.
Bà Đặng Thị Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi
người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Quy định chung: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối
với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Th1ận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Bà Đặng Thị Th phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn
đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm cho nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Th đã nộp theo biên lai Th1 tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0006163 ngày 21 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Bà Th phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về tiền cấp dưỡng nuôi con chung tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã Ninh Hòa; - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa; - Các đương sự; - UBND xã Ninh Xuân, thị xã Ninh Hòa; GCNKH số: 57/2014 ngày 24/7/2014; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Thịnh |