vanban.org

Bản án 07/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 20/03/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lý Lâm Yến N được ly hôn với anh Nguyen Andy T.

Về con chung: Chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T xác định không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T xác định không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lý Lâm Yến N được ly hôn với anh Nguyen Andy T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 07/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 20-3-2019
V/v tranh chấp xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Tự

Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Kim Chi

Ông Dương Thành Huynh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thị Thanh Thoản - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 03 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lý Lâm Yến N, sinh năm 1994. Địa chỉ: ấpX, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh. (yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyen Andy T, sinh năm 1991. Địa chỉ: 7423 DR, SD, CA 92126, USA. (yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai chị Lý Lâm Yến N trình bày: Chị và anh Nguyen Andy T do mai mối, hai bên tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh ngày 12/8/2013. Sau khi kết hôn chị và anh Andy T sống hạnh phúc được khoảng một tháng thì anh T quay trở về Mỹ sinh sống, làm việc. Đến năm 2015 thì anh Andy T có về nước thăm chị một lần rồi tiếp tục quay trở về Mỹ sinh sống, từ đó đến nay thì hai vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa, anh T cũng không có về nước và cũng không quan tâm gì đến chị.

Nay xét thấy vợ chồng đã không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyen Andy T. Về con chung: chị và anh Nguyen Andy T không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung và về nợ chung phải thu, phải trả: chị và anh Nguyen Andy T không có tài sản chung, không có nợ chung phải thu, phải trả nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Công văn số: 211/CV-DS ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã được anh Nguyen Andy T khai và được hợp thức hóa lãnh sự bởi Đổng Công lý văn phòng Bang California thể hiện ý kiến của anh Nguyen Andy T như sau: anh đồng ý ly hôn với chị Lý Lâm Yến N; anh và chị N không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung phải thu phải trả nên không yêu cầu Tòa án giải quyết (BL: 30-31).

Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết theo pháp luật quy định. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ và thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Chị Lý Lâm Yến N yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyen Andy T là có cơ sở chấp nhận, vì hiện nay hai người ở hai nước khác nhau, chị Lý Lâm Yến N sống tại Việt Nam, còn anh Nguyen Andy T sống tại nước ngoài (Mỹ). Mặt khác, từ năm 2015 đến nay cuộc sống mỗi người ở một nơi và không còn liên lạc qua lại, không quan tâm nhau, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, khó có thể hàn gắn với nhau được. Lời khai của anh Nguyen Andy T cũng thể hiện thống nhất ly hôn với chị Lý Lâm Yến N. Xét thấy, hôn nhân giữa chị N và anh T đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lý Lâm Yến N được ly hôn với anh Nguyen Andy T. Giữa chị N và anh T không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung phải thu phải trả, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Buộc chị Lý Lâm Yến N chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Ngoài ra, Vị còn đề nghị Hội đồng xét xử dành quyền kháng cáo cho người tham gia tố tụng theo đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, nguyên đơn là người Việt Nam cư trú tại tỉnh Trà Vinh, bị đơn là công dân Hoa Kỳ cư trú ở Lãnh thổ Hoa Kỳ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39 Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Nguyên đơn có bản tự khai trình bày rõ ràng các vấn đề trong vụ án và có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn. Đối với anh Nguyen Andy T là bị đơn trong vụ án cũng có ý kiến thể hiện yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt (BL30) nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T xác lập vào năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn

2

theo đúng quy định của pháp luật (BL: 05) nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Lâm Yến N: Sau khi kết hôn thì chị và anh Nguyen Andy T sống hạnh phúc được khoảng một tháng, sau đó anh Andy T quay trở về Mỹ sinh sống và làm việc, từ đó hai vợ chồng ít liên lạc với nhau, đến năm 2015 anh Andy T có về thăm chị được một lần và cắt đứt liên lạc cho đến nay, giữa chị và anh Andy T đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cuộc sống vợ chồng đã không tồn tại.

Theo khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” nhưng cả chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T đã không thực hiện các nghĩa vụ này với nhau nên về mục đích hôn nhân không đạt được. Từ đó Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T ly hôn.

[3] Về con chung: Chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T xác định không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T xác định không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T xác định không có nợ chung phải thu, phải trả, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí sơ thẩm: chị Lý Lâm Yến N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

[7] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 470, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lý Lâm Yến N được ly hôn với anh Nguyen Andy T.

3

2. Về con chung: Chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T xác định không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T xác định không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Lý Lâm Yến N và anh Nguyen Andy T xác định không có nợ chung phải thu, phải trả, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: chị Lý Lâm Yến N phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị Lý Lâm Yến N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0017047 ngày 18 tháng 6 năm 2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ