- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Thiên Tr.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2019/HNGĐ-ST Ngày: 13 – 5 – 2019 “V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Ông Nguyễn Văn Linh.
2/Ông Nguyễn Văn Hành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh S, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST–HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thiên Tr, sinh năm 1985 (Có mặt).
Địa chỉ: Số B, đường Tôn Đức T, khóm 2, phường 5, thành phố S, tỉnh S.
Bị đơn: Anh Thạch Văn B, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thiên Tr trình bày:
Chị Tr với anh Thạch Văn B kết hôn với nhau năm 2007 (đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố S, tỉnh S và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 126 ngày 26 tháng 8 năm 2009). Sau khi kết hôn hai người về sống bên gia đình chị Tr. Thời gian đầu hai người sống hạnh phúc. Đến năm 2011, hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Sau đó anh B bỏ mẹ con chị Tr đi tìm hạnh phúc mới, hai người không còn chung sống với nhau từ thời gian đó. Nay chị Tr xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh B.
Trong quá trình chung sống chị Tr và anh B có ba con chung: 1/Thạch Thị Thanh X, sinh ngày 04/7/2006; 2/Thạch Quốc T, sinh ngày 21/3/2008; 3/Thạch Quốc G, sinh ngày 24/5/2012, cả ba đang sống cùng chị Tr. Chị Tr yêu cầu được trực tiếp nuôi con không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Thạch Văn B không có lời trình bày do vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 04/TB-TLVA ngày 03 tháng 01 năm 2019, tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Thạch Văn B nhưng anh B không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thiên Tr. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với anh B để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh B đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt anh B, không tiến hành hòa giải được và anh B cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thiên Tr được quyền ly hôn với anh Thạch Văn B. Về con chung: Giao con cho chị Tr trực tiếp nuôi, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay anh Thạch Văn B mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh B.
Về nội dung: Tại tòa chị Nguyễn Thị Thiên Tr giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với anh Thạch Văn B.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thiên Tr với anh Thạch Văn B là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2011, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc. Hai người không còn chung sống với nhau từ năm 2011, thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc nhau, trong giai đoạn hòa giải cũng như tại phiên tòa chị Tr kiên quyết yêu cầu ly hôn nên xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chị Tr yêu cầu được ly hôn với anh B là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: 1/Thạch Thị Thanh X, sinh ngày 04/7/2006; 2/Thạch Quốc T, sinh ngày 21/3/2008; 3/Thạch Quốc G, sinh ngày 24/5/2012, cả ba cháu hiện đang sống cùng chị Tr. Về nguyên tắc việc trông nom, chăm sóc con chung là nghĩa vụ của cha mẹ. Tại Tòa chị Tr yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con, xét thấy các con đều có nguyện vọng sống với mẹ và một mình chị Tr đã nuôi con từ năm 2011 đến nay nên yêu cầu này là có căn cứ được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con do chị Tr không yêu cầu nên anh B không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tr trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chị Tr yêu cầu nên chị Tr phải chịu theo luật định.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Thiên Tr.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thiên Trúc được quyền ly hôn với anh Thạch Văn B.
- Về con chung: Giao cháu Thạch Thị Thanh X, sinh ngày 04/7/2006; cháu Thạch Quốc T, sinh ngày 21/3/2008; và Thạch Quốc G, sinh ngày 24/5/2012 cho chị Nguyễn Thị Thiên Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Thạch Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Thạch Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh B lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Tr có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh B. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thiên Tr trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thiên Tr phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2016/0002919 ngày 28/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy chị Tr đã nộp xong án phí.
Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Thạch Văn B được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện Đ; -Chi cục THADS huyện Đ; -TAND tỉnh S (P.KTNV&THA); -Các đương sự. -UBND phường 5, thành phố S, tỉnh S; -Lưu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hoàng |