- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn A xin ly hôn chi Lê Thị Việt H"
- Tòa quyết gì? * Không chấp nhận đơn kháng cáo của chị Lê Thị Việt H, giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2019/HNGĐ-PT Ngày: 04/04/2019 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi |
con, chia tài sản khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tôn Anh Dũng.
Các Thẩm phán: Ông Trần Hưng Bính.
Bà Nguyễn Thị Kim Trọng.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Thọ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- i di n i n ki m t nh n d n t nh Th a Thiên Hu : Bà Vũ Thị Liên Hoa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 04 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số 11 Tôn Đức Thắng, thành phố Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 01/2019/TLPT-HNGĐ ngày 02/01/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 61/2018/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện A bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 58/2019/QĐ-PT ngày 14 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1971; địa chỉ nơi làm việc: Ban chỉ huy Quân sự huyện A , tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Việt H, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: Tổ 2, tổ dân phố 2, thị trấn A, huyện A , tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt
- Người kháng cáo: Chị Lê Thị Việt H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ, n i dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” đề ngày 20-4-2018, đơn bổ sung ngày 22-5-2018, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Văn A trình bày nh sau:
Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị Việt H đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 08-8-2001, tại Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện A , tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong thời gian đầu, v ch ng chung sống với nhau rất hạnh phúc và có đư c hai đứa con chung. Từ năm 2005, v ch ng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, căng thẳng, tình cảm đã đổ vỡ r i hàn gắn nhưng cũng không thành và ngày càng mâu thuẫn trầm trọng hơn. Gia đình n i, ngoại hai bên, cơ quan, chính quyền địa phương đã đ ng viên, hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi đư c tình trạng mâu thuẫn. Từ tháng 10 năm 2013 đến nay, v ch ng không chung sống với nhau, tình cảm ngày càng xa dần và không thể hàn gắn đư c nữa nên anh yêu cầu ly hôn.
Về con: V ch ng có hai đứa con chung tên là Nguyễn Thị Minh B, sinh ngày 15-5-2002 và Nguyễn Tiến Th, sinh ngày 31-10-2012. Anh có nguyện vọng đư c nuôi cháu B, giao cháu Th cho chị H nuôi dưỡng. Còn nếu cháu B có nguyện vọng muốn ở với mẹ thì anh cũng đ ng ý giao cả hai cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và anh sẽ cấp dưỡng nuôi mỗi cháu là 1.500.000đ/tháng.
Về tài sản: Theo anh A thì v ch ng có tạo lập tài sản chung trong thời gian chung sống, tại đơn khởi kiện anh yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia các loại tài sản g m: M t thửa đất 500m2, tọa lạc tại thôn HT, xã HT, huyện A , trị giá 100.000.000 đ ng, trên đất có xây m t ngôi nhà tạm b , l p tôn, diện tích 28m2, trị giá 15.000.000 đ ng; m t ngôi nhà bếp xây tạm b , l p tôn, diện tích 21m2, trị giá 15.000.000đ; m t dàn vi tính, m t b bàn ghế vi tính giá 5.000.000 đ ng; m t nhẫn vàng 02 chỉ, loại 9999, trị giá lúc mua 7.000.000 đ ng; 4m3 gỗ Sến, trị giá 25.000.000 đ ng. Anh yêu cầu đư c nhận 250m2 đất ở, nhà ở trên đất tại xã HT và 4m3 gỗ sến; số tài sản còn lại và m t số tài sản khác không kê khai thì giao toàn b cho chị H.
Tại bản tự khai ngày 16-7-2018, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn Lê Thị Việt H trình bày:
Về hôn nhân: Chị với anh A đăng ký kết hôn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống, chị thừa nhận v ch ng có phát sinh những vấn đề mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh A thiếu trách nhiệm với gia đình, thường bỏ đi qua đêm, không mang tiền lương về để phụ nuôi v con; thường đổ lỗi cho v , có hành vi bạo lực, đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của mẹ con chị, đòi đư c tự do. Chị đã báo cáo đến chính quyền địa phương và nơi anh A công tác để can thiệp, khuyên bảo nhưng vẫn không thay đổi đư c. Cá nhân chị vẫn còn tình cảm v ch ng nên chị không đ ng ý ly hôn. Còn về giải pháp để hàn gắn tình cảm v ch ng thì bản thân chị vẫn tạo điều kiện, không gây khó khăn gì cho anh A trong cu c sống. Trường h p ly hôn thì anh A phải đ ng ý thỏa thuận về phần con chung và tài sản chung theo ý kiến của chị.
Về con: Chị công nhận v ch ng có hai đứa con chung như anh A trình bày. Chị mong muốn v ch ng đoàn tụ để cùng có trách nhiệm nuôi dạy con cái. Trường h p ly hôn thì chị yêu cầu đư c quyền nuôi dưỡng cả hai cháu và anh A phải cấp dưỡng nuôi mỗi cháu là 2.000.000đ/tháng kể từ khi ly hôn cho đến khi mỗi cháu đủ tuổi thành niên (18 tuổi).
Về tài sản: Chị thừa nhận trong quá trình chung sống v ch ng có tạo lập tài sản chung m t như anh A nêu trên, đ ng thời chị bổ sung thêm hai loại tài sản mà anh A chưa kê khai là m t chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, biển số 75L1-04348, mua năm 2013, trị giá 42.000.000 đ ng; số tiền h p đ ng cưa gỗ 6.000.000 đ ng. Chị mong muốn nhà và đất ở tại xã HT để lại cho hai con sau này, các tài sản khác thì giải quyết phân chia theo luật định, riêng nhà và đất tại tổ 2, thị trấn A thì không đư c phân chia vì đang ở nhờ của cha mẹ chị.
Qúa trình làm việc với Tòa án, đến ngày 26-10-2018 thì anh A, chị H cùng lập Bảng kê khai tài sản chung của v ch ng để yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia, trong đó v ch ng thống nhất tự thỏa thuận phân chia m t số tài sản là m t ngôi nhà bếp tạm b , l p tôn, diện tích 21m2, đư c xây dựng vào năm 2011 tại Tổ 2, tổ dân phố 2, thị trấn A, huyện A ; m t b bàn ghế vi tính; m t nhẫn vàng 02 chỉ, loại 9999. Còn m t số tài sản khác không thỏa thuận đư c thì v ch ng cũng thống nhất kê khai để yêu cầu Tòa án giải quyết bao g m: M t thửa đất ở 500m2 trị giá 100.000.000đ ng tại thôn HT, xã HT, huyện A , trên đất có m t ngôi nhà xây cấp 4, mái l p tôn, diện tích 28m2 trị giá 15.000.000đ ng; m t chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, biển kiểm soát 75L1-043.48 trị giá 20.000.000đ; 4m3 trị giá 40.000.000đ ng; số tiền h p đ ng cưa gỗ 6.000.000đ ng.
Theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản có tranh chấp, kết quả xác định đư c cụ thể như sau: M t thửa đất ở 500m2 tại thôn HT, xã HT, huyện A , trên đất có m t ngôi nhà xây cấp 4, mái l p tôn, diện tích 27,87m2; m t chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, biển kiểm soát 75L1-043.48 anh đang quản lý, sử dụng; 3,568m3 gỗ Sến, Chò đã xẻ thô trị giá 35. 680.000đ ng và 11 khúc gỗ Kiền dạng bi hình trụ tròn chưa bóc vỏ trị giá là 1.000.000đ ng do chị H đang quản lý.
Ngày 07-11-2018, anh H Văn X tự nguyện trả lại số tiền mặt 6.000.000đ đã tạm ứng từ anh A, chị H để thực hiện việc cưa gỗ nhưng chưa thực hiện đư c, số tiền này do chị H trực tiếp nhận và đang quản lý.
Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 61/2018/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện A đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 59, 62, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 213 B luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 5, 147, 157 của B luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Văn A ly hôn với chị Lê Thị Việt H; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi dưỡng con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Minh B, sinh ngày 15-5-2002 và Nguyễn Tiến Th, sinh ngày 31-10-2012 cho chị Lê Thị Việt H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Nguyễn Văn A đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con định kỳ hàng tháng đối với cháu B là 2.000.000đ/ tháng (Hai triệu đ ng/tháng) và cháu Th là 2.000.000đ/tháng (Hai triệu đ ng/tháng) kể từ khi ly hôn đến khi mỗi cháu Th niên (đủ 18 tuổi).
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đư c cản trở.
3. Về tài sản chung: Phân chia tài sản chung của v ch ng cụ thể như sau:
+ Chị Lê Thị Việt H đư c giao quyền sở hữu, định đoạt và sử dụng tài sản g m có:
- Đư c giao quyền quản lý, sử dụng đất thu c ranh giới 1 ( phần A), Thửa đất số: 00, tờ bản đ số: 00, mục đích sử dụng: Đất ở, có diện tích 250 m2, giá trị là: 50.000.000 đ ng và gắn liền tài sản trên đất có m t ngôi nhà xây cấp 4, mái l p tôn, diện tích 27,87m2 , giá trị là: 15.000.000đ ng; Đất này đã cấp giấy GCNQSD đất số: AB 714302, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00001,QSDĐ: 911/QĐ-H-UBND/ 2005 ngày 04/10/2005, đứng tên người sử dụng đất bà Lê Thị Việt H và ông Nguyễn Văn A (phía bắc giáp với đất của UBND xã HT; phía nam giáp với đường trung tâm cụm xã; phía đông giáp với đường nhựa liên thôn; phía tây giáp với đất của anh Nguyễn Văn A), địa chỉ thửa đất: Thôn HT, Xã HT, huyện A , tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đư c nhận 1,784 m3 gỗ Sến, Chò đã xẻ thô trị giá là 17.840.000 đ ng và 6 khúc gỗ Kiền dạng bi hình trụ tròn chưa bóc vỏ trị giá là 545.454 đ ng và nhận tiền mặt 6.000.000 đ ng do chị H đang quản lý. Tổng c ng giá trị tài sản chị Lê Thị Việt H đư c nhận là 89.385.454 đ ng ( tám mươi chín triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm năm mươi tư đ ng chẳn).
+ Anh Nguyễn Văn A đư c giao quyền sở hữu, định đoạt và sử dụng tài sản g m có:
- Đư c giao quyền quản lý, sử dụng đất thu c ranh giới 2 (phần B) Thửa đất số: 00, tờ bản đ số: 00, mục đích sử dụng: Đất ở, có diện tích 248,6 m2 (theo Quyết định sửa chữa bổ sung bản án số 01/2019/QĐ-SCBA ngày 20/3/2019 của TAND huyện A , có diện tích 250 m2 ), giá trị là: 50.000.000 đ ng; Đất này đã cấp giấy GCNQSD đất số: AB 714302, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00001,QSDĐ: 911/QĐ-H-UBND/ 2005 ngày 04/10/2005, đứng tên người sử dụng đất bà Lê Thị Việt H và ông Nguyễn Văn A (phía bắc giáp với đất của UBND xã HT; phía nam giáp với đường trung tâm cụm xã; phía đông giáp với đất của chị Lê Thị Việt H; phía tây giáp với đất của ông H Mạnh Thi), địa chỉ thửa đất: Thôn HT, Xã HT, huyện A , tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đư c nhận 1,784 m3 gỗ Sến, Chò đã xẻ thô trị giá là 17.840.000 đ ng và 5 khúc gỗ Kiền dạng bi hình trụ tròn chưa bóc vỏ trị giá là 454.546 đ ng và đư c quyền sở hữu m t chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, biển kiểm soát 75L1-043.48, màu xanh, vàng trị giá 20.000.000 đ ng, anh A đang quản lý, sử dụng; Tổng c ng giá trị tài sản anh Nguyễn Văn A đư c nhận là 88.294.546 đ ng ( tám mươi tám triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm bốn mươi sáu đ ng chẳn).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bu c anh Nguyễn Văn A phải chịu n p án phí ly hôn 300.000 đ ng; 300.000 đ ng án phí tiền cấp dưỡng nuôi con và án phí chia tài sản trên giá trị tài sản đư c nhận là 88.294.546 đ ng x 5% = 4.414.727 đ ng. Tổng c ng ba khoản án phí anh A phải n p là 5.014.727 đ ng, đư c trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã n p 4.235.000 đ ng theo Biên lai số AA/2013/004184 ngày 07/6/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A , số tiền án phí còn thiếu anh A phải n p là 5.014.727 đ ng - 4.235.000 đ ng = 779.727 đ ng (làm tròn số 779.000 đ ng).
Bu c chị Lê Thị Việt H phải chịu án phí với tổng giá trị tài sản đư c nhận là: 89.385.454 đ ng x 5% = 4.469.272 đ ng (làm tròn số 4.469.000 đ ng).
5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Về nguyên tắc mỗi bên phải chịu m t nửa số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nhưng anh Nguyễn Văn A đã thật sự tự nguyện n p đủ toàn b số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.800.000 đ ng. Anh A và chị H không phải n p thêm.
Đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, kể từ ngày người đư c thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người phải thi hành án thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của B luật Dân sự năm 2015.
Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, đư c bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung m t số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu yêu cầu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05 tháng 12 năm 2018 chị Lê Thị Việt H có đơn kháng cáo với n i dung không đ ng ý với bản án sơ thẩm về hôn nhân và chia tài sản, nguyên nhân ly hôn là do nguyên đơn vũ phu, không có trách nhiệm với gia đình. Về việc chia tài sản chung quyền l i chưa đảm bảo của hai con. Đề nghị cấp Phúc Thẩm xem xét hai n i dung kháng cáo.
Tại Phiên tòa Phúc thẩm: Nguyên đơn- anh Nguyễn Văn A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn - chị Lê Thị Việt H vẫn giữ nguyên n i dung kháng cáo, chị H cho rằng do anh A làm cho mâu thuẫn hôn nhân trầm trọng và không đ ng ý ly hôn, nếu ly hôn anh A phải giao toàn b nhà đất cho chị H và các con. Các bên đương sự không thỏa thuận đư c với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có ý kiến:
Về việc kiểm sát tuân theo pháp luật về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án và tại phiên tòa Thẩm phán, H i đ ng xét xử, Thư ký phiên tòa và các bên đương sự đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự không vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục.
Về nội dung giải quyết vụ án: Do tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài, cấp sơ thẩm cho anh A ly hôn chị H là có căn cứ. Về con cái, tài sản Cấp sơ thẩm đã giải quyết là đảm bảo cho chị H và các con. Kháng cáo của chị H là không có căn cứ. Do đó đề nghị H i đ ng xét xử Phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của chị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa; lời trình bày tranh luận của kiểm sát viên, đương sự, H i đ ng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Lê Thị Việt H đề ngày 05/12/2018 nằm trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo của chị Lê Thị Việt H, thấy rằng:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn A và chị Lê Thị Việt H kết hôn h p pháp. Theo anh A thì quá trình chung sống giữa v ch ng đã xảy ra những vấn đề mâu thuẫn, bất đ ng, không nhường nhịn, chia sẻ với nhau; đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2013 đến nay, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, anh A cương quyết ly hôn. Gia đình n i, ngoại hai bên, cơ quan, chính quyền địa phương đã đ ng viên, hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi đư c tình trạng mâu thuẫn. Còn chị H cho rằng anh A thiếu trách nhiệm với gia đình, thường bỏ đi qua đêm, không mang tiền lương về để phụ nuôi v con; thường đổ lỗi cho v , có hành vi bạo lực, đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của mẹ con chị, đòi đư c tự do. Chị đã báo cáo đến chính quyền địa phương và nơi anh A công tác để can thiệp, khuyên bảo nhưng vẫn không thay đổi đư c. Chị H không có giải pháp gì khác để khắc phục tình trạng mâu thuẫn. Tại phiên tòa phúc thẩm anh A cương quyết ly hôn chị H vẫn không đưa ra đư c biện pháp để v ch ng trở lại đoàn tụ. Xét tình trạng mâu thuẫn v ch ng đã trầm trọng, hôn nhân không thẻ kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đư c, hai người cũng đã sống ly thân đến nay không thể hàn gắn nên tòa án cấp sơ thẩm giải quyết cho anh A đư c ly hôn với chị H là đúng quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Anh A, chị H công nhận có hai con chung tên là Nguyễn Thị Minh B, sinh ngày 15-5-2002 và Nguyễn Tiến Th, sinh ngày 31-10-2012. Theo nguyện vọng của hai cháu B và Thành cũng như thỏa thuận của anh A - chị H, cấp sơ thẩm giao cả hai cháu B và Thành cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi mỗi cháu đủ tuổi thành niên và anh A phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu B và cháu Th mỗi cháu là 2.000.000đ/tháng (Hai triệu đ ng/tháng) kể từ khi ly hôn cho đến khi mỗi cháu đủ tuổi thành niên (18 tuổi) là đúng pháp luật và đảm bảo quyền l i cho con chung.
- Về chia tài sản chung:
Theo kê khai của anh A chị H, Tòa án đã tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản có tranh chấp, kết quả xác định đư c: M t thửa đất số: 00, tờ bản đ số: 00, mục đích sử dụng: Đất ở, có diện tích 500m2, giá trị là: 100.000.000 đ ng và gắn liền tài sản trên đất có m t ngôi nhà xây cấp 4, mái l p tôn, diện tích 27,87m2, giá trị là: 15.000.000đ ng; Đất này đã cấp giấy GCNQSD đất số: AB 714302, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00001,QSDĐ: 911/QĐ-H-UBND/2005 ngày 04/10/2005, đứng tên người sử dụng đất bà Lê Thị Việt H và ông Nguyễn Văn A; m t chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, biển kiểm soát 75L1-043.48 trị giá 20.000.000 đ ng anh A đang quản lý, sử dụng; 3,568m3 gỗ Sến, Chò đã xẻ thô trị giá 35.680.000đ ng và 11 khúc gỗ Kiền dạng bi hình trụ tròn chưa bóc vỏ trị giá 1.000.000đ ng do chị H đang quản lý; 6.000.000đ ng tiền mặt do anh X trả, chị H nhận và đang quản lý. Các loại tài sản là nhà ở, đất ở, xe mô tô Lead, gỗ mà nguyên đơn, bị đơn đã thống nhất về giá trị thành tiền để phân chia là phù h p với thực tế và quy định của pháp luật nên H i đ ng xét xử áp dụng giá trị đó để xem xét.
Xét về công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung thì thấy rằng: Mặc dù anh A có thu nhập mức lương cao hơn chị H, tuy nhiên lỗi trong việc ly hôn đều do lỗi của hai bên, cấp sơ thẩm giải quyết tài sản chung chia mỗi người ½ giá trị tài sản là đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết về tài sản chung giao cho chị H phần đất có ngôi nhà và giải quyết các tài sản khác theo nhu cầu sử dụng của mỗi bên là dầy đủ và đảm bảo quyền l i của phụ nữ và trẻ em.
Do đó kháng cáo của chị Lê Thị Việt H là không có căn cứ. Nên H i đ ng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của chị H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí xem xét tại chỗ, án phí dân sự sơ thẩm và quy định về thi hành án, cấp sơ thẩm đã giải quyết đúng pháp luật, không có kháng cáo cần giữ nguyên các quyết định này của bản án sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chị Lê Thị Việt H không đư c chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí phúc thẩm (Theo Điều 28 và Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 B luật Tố tụng Dân sự; Tuyên xử:
* Không chấp nhận đơn kháng cáo của chị Lê Thị Việt H, giữ nguyên bản án sơ thẩm:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 59, 62, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 213 B luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 5, 147, 157 của B luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Văn A ly hôn với chị Lê Thị Việt H; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi dưỡng con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Minh B, sinh ngày 15-5-2002 và Nguyễn Tiến Th, sinh ngày 31-10-2012 cho chị Lê Thị Việt H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Nguyễn Văn A đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con định kỳ hàng tháng đối với cháu B là 2.000.000đ/ tháng (Hai triệu đ ng/tháng) và cháu Th là 2.000.000đ/tháng (Hai triệu đ ng/tháng) kể từ khi ly hôn đến khi mỗi cháu Th niên (đủ 18 tuổi).
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đư c cản trở.
3. Về tài sản chung: Phân chia tài sản chung của v ch ng cụ thể như sau:
+ Chị Lê Thị Việt H đư c giao quyền sở hữu, định đoạt và sử dụng tài sản g m có:
- Đư c giao quyền quản lý, sử dụng đất thu c ranh giới 1 ( phần A), Thửa đất số: 00, tờ bản đ số: 00, mục đích sử dụng: Đất ở, có diện tích 250 m2, giá trị là: 50.000.000 đ ng và gắn liền tài sản trên đất có m t ngôi nhà xây cấp 4, mái l p tôn, diện tích 27,87m2 , giá trị là: 15.000.000đ ng; Đất này đã cấp giấy GCNQSD đất số: AB 714302, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00001,QSDĐ: 911/QĐ-H-UBND/ 2005 ngày 04/10/2005, đứng tên người sử dụng đất bà Lê Thị Việt H và ông Nguyễn Văn A (phía bắc giáp với đất của UBND xã HT; phía nam giáp với đường trung tâm cụm xã; phía đông giáp với đường nhựa liên thôn; phía tây giáp với đất của anh Nguyễn Văn A), địa chỉ thửa đất: Thôn HT, Xã HT, huyện A , tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đư c nhận 1,784 m3 gỗ Sến, Chò đã xẻ thô trị giá là 17.840.000 đ ng và 6 khúc gỗ Kiền dạng bi hình trụ tròn chưa bóc vỏ trị giá là 545.454 đ ng và nhận tiền mặt 6.000.000 đ ng do chị H đang quản lý. Tổng c ng giá trị tài sản chị Lê Thị Việt H đư c nhận là 89.385.454 đ ng ( tám mươi chín triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm năm mươi tư đ ng chẳn).
+ Anh Nguyễn Văn A đư c giao quyền sở hữu, định đoạt và sử dụng tài sản g m có:
- Đư c giao quyền quản lý, sử dụng đất thu c ranh giới 2 (phần B) Thửa đất số: 00, tờ bản đ số: 00, mục đích sử dụng: Đất ở, có diện tích 250 m2, giá trị là: 50.000.000 đ ng; Đất này đã cấp giấy GCNQSD đất số: AB 714302, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00001,QSDĐ: 911/QĐ-H-UBND/ 2005 ngày 04/10/2005, đứng tên người sử dụng đất bà Lê Thị Việt H và ông Nguyễn Văn A (phía bắc giáp với đất của UBND xã HT; phía nam giáp với đường trung tâm cụm xã; phía đông giáp với đất của chị Lê Thị Việt H; phía tây giáp với đất của ông H Mạnh T), địa chỉ thửa đất: Thôn HT, Xã HT, huyện A , tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đư c nhận 1,784 m3 gỗ Sến, Chò đã xẻ thô trị giá là 17.840.000 đ ng và 5 khúc gỗ Kiền dạng bi hình trụ tròn chưa bóc vỏ trị giá là 454.546 đ ng và đư c quyền sở hữu m t chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, biển kiểm soát 75L1-043.48, màu xanh, vàng trị giá 20.000.000 đ ng, anh A đang quản lý, sử dụng; Tổng c ng giá trị tài sản anh Nguyễn Văn A đư c nhận là 88.294.546 đ ng ( tám mươi tám triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm bốn mươi sáu đ ng chẳn).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bu c anh Nguyễn Văn A phải chịu n p án phí ly hôn 300.000 đ ng; 300.000 đ ng án phí tiền cấp dưỡng nuôi con và án phí chia tài sản trên giá trị tài sản đư c nhận là 88.294.546 đ ng x 5% = 4.414.727 đ ng. Tổng c ng ba khoản án phí anh A phải n p là 5.014.727 đ ng, đư c trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã n p 4.235.000 đ ng theo Biên lai số AA/2013/004184 ngày 07/6/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A , số tiền án phí còn thiếu anh A phải n p là 5.014.727 đ ng - 4.235.000 đ ng = 779.727 đ ng (làm tròn số 779.000 đ ng).
Bu c chị Lê Thị Việt H phải chịu án phí với tổng giá trị tài sản đư c nhận là: 89.385.454 đ ng x 5% = 4.469.272 đ ng ( làm tròn số 4.469.000 đ ng ).
5.Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Về nguyên tắc mỗi bên phải chịu m t nửa số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nhưng anh Nguyễn Văn A đã thật sự tự nguyện n p đủ toàn b số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.800.000 đ ng. Anh A và chị H không phải n p thêm.
Đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, kể từ ngày người đư c thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người phải thi hành án thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của B luật Dân sự năm 2015.
Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, đư c bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung m t số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu yêu cầu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
* Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Lê Thị Việt H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đ ng, đư c trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm chị H đã n p 300.000 đ ng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 004219 ngày 14/12/2018 của Cục Thi hành án dân sự huyện A .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh TT-Huế; - Tòa án nhân dân huyện A ; - VKSND huyện A ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện A ; - Các đương sự; - Lưu h sơ vụ án; Tòa DS, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tôn Anh Dũng |