vanban.org

Bản án 07/2019/HNGĐ-PT — Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 07/05/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa bản án ơ hẩm số 226/2917/HNGĐ-ST ngày 13/9/2017 của Tòa án nhân dân thị xã L.

Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH.12, ngày 27/02/2009; Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP, ng 13/6/2012. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Sửa bản án ơ hẩm số 226/2917/HNGĐ-ST ngày 13/9/2017 của Tòa án nhân dân thị xã L.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2019/HNGĐ-PT
Ngày 07 - 5 - 2019
V/v: “Tranh chấp chia tài sản
chung sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh.

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Ánh Tuyết.

Ông Lương Thanh Chín.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hữu Trọng – Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự hụ ý ố 42/2017/TLPT-HNGĐ ng 14 tháng 11 năm 2017 về việc: “Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn”.

Do bản án dân sự ơ hẩm số 226/2017/DS-ST ngày 13/9/2017 của Tòa án nhân dân thị xã L bị kháng cáo.

Theo Quyế định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2019/QĐ-PT ngày 18/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương ự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, inh năm 1972;

Địa chỉ: Thôn Phước T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Phan Thanh Hưng – Luậ ư Văn phòng Luậ ư Ngu ễn Duy Cân – Đo n uậ ư TP. Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Đinh Văn Q, inh năm 1972;

Địa chỉ: Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

3. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ NLQ1, inh năm 1952;

Địa chỉ: Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

2/ NLQ2, inh năm 1990.

Địa chỉ: Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

4. Người có kháng cáo: Ngu ên đơn Nguyễn Thị Mỹ T; địa chỉ: Thôn Phước T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án ơ hẩm, nội dung vụ án được tóm tắ như au:

Theo đơn khởi kiện tranh chấp phân chia tài sản chung và lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã L, bà Nguyễn Thị Mỹ T – nguyên đơn trình bày:

Bà và anh Đinh Văn Q rước đâ

vợ chồng, nhưng đã hôn v o năm 2012 do Tòa án nhân dân thị xã L giải quyết. Khi ly hôn, về tài sản chung gồm có: 01 căn nh xâ cấp 4, diện tích 4m x 8m tọa lạc tại Thôn Phước T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Căn nh nằm trên diện ích đất 5.399 m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 393114 cấp ngày 29.12.2006 do Bà T và anh Q đứng tên đăng ký, Bà T và anh Q tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngày 26.6.2012, Bà T và anh Q có mua đất của mẹ anh Q – NLQ1 diện tích 234 m2 (9m x 26m), rong đó có 100 m2 đất thổ cư ại Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận với giá 75.000.000 đồng, có ông Mai Thanh Sơn người làm chứng. Khi mua thửa đất này, Bà T và anh Q còn chung sống với nhau v đã xâ 01 căn nh cấp 4 trị giá 170.000.000 đồng. Tại thời điểm mua đất, Bà T và anh Q đã giao đủ số tiền cho NLQ1, nhưng nh nước chưa cho chu ển mục đích ách thửa để chuyển nhượng nên hai bên chỉ viết giấy tay mua bán. Sau khi ly hôn, thì Bà T và anh Q tự thỏa thuận phân chia tài sản cụ thể: Nh v đất tại Thôn Phước T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận anh Q đồng ý giao cho Bà T v đứa con gái sở hữu sử dụng, Bà T có trách nhiệm trả nợ 65.000.000 đồng tiền xây nhà ở phường T còn thiếu v nuôi hai đứa con đến úc rưởng thành, anh Q không chu cấp; Còn nhà và đất tại Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận giao cho anh Q sở hữu, sử dụng; Lô đất còn lại á bên căn nh giao cho đứa con rai, cho đến úc rưởng thành sẽ làm giấy tờ ang ên cho con. Nhưng au đó, anh Q không giữ đúng ời hứa, ô đất á căn nh ại phường T hiện nay NLQ1 đang đứng tên sử dụng. Hiện nay, Bà T biết NLQ1 và ông Q đã m hủ tục giấy tờ đối với căn nh v diện ích đất này, mặc dù rước đâ Bà T có yêu cầu anh Q nói với NLQ1 đưa giấy tờ để chuyển mục đích ách hửa sang tên thì anh Q không đồng ý. Nay, Bà T yêu cầu phân chia ½ trị giá căn nh ại phường T v được quyền sử dụng diện ích đất còn lại á căn nhà. Tại phiên tòa hôm nay, Bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Bị đơn anh Đinh Văn Q, trình bày:

Anh và Bà T là vợ chồng nhưng đã hôn, i ản chung gồm có: Nh v đất tại Thôn Phước T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; 01 ô đất tại Thôn Phước T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận do Bà T mua của Bà Sương (Bà ruột Bà T), anh Q không biết có giấy tờ không, vì mọi tài sản của vợ chồng do T nắm giữ và quản lý; Lô đất tại phường T anh và bà T mua của mẹ anh – NLQ1 diện tích 6m x 26 m với giá 75.000.000 đồng. Sau này, NLQ1 biết anh và Bà T ly hôn nên chỉ bán chiều ngang 4,5m v anh đã xâ nh , còn diện ích đất còn lại đã rả lại cho NLQ1 và hiện b đang đứng tên. Theo bà T khai giấ bán đất mà Bà cung cấp, anh Q không biế cũng không đọc. Đối với số tiền 65.000.000 đồng theo T khai xây nhà còn thiếu nợ là không có. Khi anh và bà T ly hôn, về tài sản không yêu cầu Tòa án giải quyế , nhưng anh v bà T tự thỏa thuận phân chia như au: Giao cho bà T sở hữu, sử dụng: nh v đất tại Thôn Phước T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, hai chiếc xe má (01 xe Nouvo v 01 xe Wave) v 01 ô đất do T mua của Bà Sương ở Tân Phước. Anh Q đã m hủ tục giấy tờ về nh v đất tại Tân Phước cho Bà T đứng tên; Phần tài sản mà anh Q sở hữu, sử dụng nh v đất tại Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Việc phân chia tài sản như vậy theo anh Q là phù hợp, anh Q không đồng ý với yêu cầu của Bà T về phân chia tài sản. Tại phiên tòa hôm nay, anh Q vắng mặt không lý do.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

NLQ1 trình bày:

Anh Đinh Văn Q là con ruột NLQ1, bà thừa nhận v o năm 2012 có bán đất cho Bà T và anh Q với diện ích 6m ngang x d i 26 m. Năm 2013, khi b biết T và Q ly hôn thì bà chỉ bán đất diện tích 4,5 m ngang với giá 75.000.000 đồng, T và Q đã xâ nh ở, Q người đứng ên đăng ký. Giấ bán đất do bà T viết, bà có ký tên v o nhưng do không biết chữ nên không đọc v cũng không được nghe bà T đọc. Lô đất mà T tranh chấp là tài sản của NLQ1 và hiện na b đang đứng tên, bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà T. Tại phiên tòa hôm nay, NLQ1 vẫn giữ nguyên yêu cầu.

NLQ2 trình bày:

NLQ2 không có quan hệ gì với Bà T, anh Q và NLQ1 m anh người thuê nhà của anh Q để ở công tác. Giữa hai bên không làm hợp đồng, NLQ2 giao dịch với NLQ1 và có thông báo cho anh Q biết và anh Q yêu cầu trả tiền thuê nhà 06 tháng 01 lần. NLQ2 bắ đầu thuê nhà từ tháng 7/2016. Việc Bà T có biết anh thuê nhà hay không thì anh không biết. Tại phiên tòa, NLQ2 có đơn xin xử vắng mặt.

Người làm chứng ông Mai Thanh Sơn trình bày:

Ông người hàng xóm với NLQ1, ông Sơn hừa nhận có ký vào giấy bán đất. Ngày 20.6.2012, T và Q cầm giấ bán đất qua cho ông xem nói ông làm chứng việc bán đất giữa NLQ1 và T, Q. Ông chỉ làm chứng có việc mua bán đất, còn cụ thể việc mua bán và giao nhận tiền giữa các bên thì ông không biế . Ông có đọc giấ bán đấ au đó mới ký tên vào, lúc này NLQ1 đã ký rồi, T và Q nói ông làm chứng để sau này khỏi tranh chấp với người em của Q.

Sau khi hòa giải không thành;

Ng 13/9/2017, Tòa án nhân dân thị xã L đưa vụ án ra xét xử, tại bản án dân sự ơ hẩm số 226/2017/DS-ST, Tòa án nhân dân thị xã L đã quyế định:

Căn cứ vào:

- Khoản 1, 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 165, khoản 2 Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 262, Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 401, 697, 698 Bộ luật dân sự 2005;

- Mục a.6 điểm a khoản 2.3 Điều 2 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ng

10.8.2004 của Hội đồng thẩm phán - Tòa án nhân dân Tối Cao về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự.

- Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;

- Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH.12, ngày 27/02/2009;

- Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP, ng 13.6.2012.

Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ T về tranh chấp phân chia tài sản chung là ½ giá trị căn nh xâ cấp 4 và phân chia diện tích đất 134 m2.

Buộc NLQ1 phải thanh toán cho anh Đinh Văn Q và bà Nguyễn Thị Mỹ T mỗi người được sở hữu số tiền 21.474.359 đồng. Tổng cộng 42.948.718 đồng.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Mỹ T phải Chịu 10.269.000 đồng án phí dân sự ơ hẩm đối với phần tài sản bị bác v 1.073.000 đồng án phí dân sự ơ hẩm, nhưng bà T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.125.000 đồng, theo biên lai số 0003689, ngày 08.10.2014, tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. Bà T còn phải nộp 8.217.000 đồng án phí.

Anh Đinh Văn Q phải Chịu 1.073.000 đồng án phí dân sự ơ hẩm.

Bà T phải chịu 900.000 đồng chi phí định giá tài sản, nhưng bà T đã hanh toán cho Hội đồng định giá vào ngày 09.8.2016.

Ngo i ra bản án dân sự ơ hẩm còn u ên u ền kháng cáo của các đương ự, u ền êu cầu hi h nh án, ngh a vụ hi h nh án v hời hiệu hi h nh án theo u định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án ơ hẩm. Ngày 25/9/2017, bà Nguyễn Thị Mỹ T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự ơ hẩm số 226/2017/DS-ST ngày 13/9/2017 của Tòa án nhân dân thị xã L.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo rút một phần yêu cầu kháng cáo về việc chia tài sản chung đối với quyền sử dụng đất 100m2 và tài sản gắn liền với đấ căn nh cấp 4, tọa lạc tại Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Người kháng cáo đề nghị Tòa án chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án ơ hẩm heo hướng chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đấ đối với diện tích 134m2, đồng thời xác định lại án phí heo đúng u định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngu ên đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án ơ hẩm heo hướng ngu ên đơn đề nghị.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng u định; người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án ơ thẩm, chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung đối với tài sản là 134m2 đất tại Kp2, phường T, thị xã L; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đấ căn nh cấp 4, tọa lạc tại Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ v o các chứng cứ v i iệu đã được hẩm ra ại phiên òa. Căn cứ v o kế uả ranh uận ại phiên òa rên cơ ở xem xé đầ đủ, o n diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm á , của ngu ên đơn, bị đơn v người có u ền ợi v ngh a vụ iên uan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hình hức: Đơn kháng cáo của bà Ngu ễn Thị Mỹ T rong hạn uậ định nên được chấp nhận xem xé giải u ế heo rình ự phúc hẩm.

[2] Về hủ ục ố ụng: Bà T khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết chia i ản chung sau khi ly hôn với ông Q, các đương ự đều có hộ khẩu hường rú v i ản ranh chấp ọa ạc ại hị xã L cho nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, ngh a vụ iên uan đến kháng cáo là ông Đinh Văn Q, NLQ1 và NLQ2 được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, riêng NLQ2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặ . Căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Xét yêu cầu của bà T về phân chia tài sản chung: Theo biên bản định giá tài sản ngày 09/8/2016 thể hiện: 01 căn nh xâ cấp 4B, có diện tích 63 m2 có kết cấu: kiềng đá chẻ, ường xây gạch, nền lát gạch ceramic, trần tôn lạnh, mái lợp tôn xi măng, hiện trạng căn nh đã xuống cấp (phần nh au ường bị nứt và bị thấm nước) trị giá 137.592.000 đồng (Mộ răm ba mươi bảy triệu năm răm chín mươi hai nghìn đồng); Mái tiền chế rước nhà có kết cấu: trụ sắt, mái lợp tôn kẽm có diện tích 4,8m x 4,3m trị giá 5.201.280 đồng (Năm riệu hai răm ẻ một nghìn hai răm ám mươi đồng); Căn nh nằm trên diện ích đất 100m2 đất ở, thửa đất số 483a, tờ bản đồ số 10 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 610588 do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp ngày 23.8.2013 do anh Đinh Văn Q đứng ên đăng ký, đất có vị trí tứ cận như au: Phía Đông giáp hẽm tự chừa, phía Tâ giáp đất ông Hùng, phía Nam giáp đất NLQ1, phía Bắc giáp đất NLQ1, trị giá diện ích đất là 100.000.000 đồng (Mộ răm riệu đồng); 01 ô đất có diện ích đất 165,6 m2 (trong đó có 137,2 m2 đất ở và 28,4 m2 đất trồng câ h ng năm) hửa đất số 483c, tờ bản đồ số 10 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 814349 do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp ngày 29.4.2014 do NLQ1 đứng ên đăng ký, đất có vị trí tứ cận như au: Phía Đông giáp hẽm 47 Lý Thường Kiệ , phía Tâ giáp đất ông Hùng, phía Nam giáp đất và nhà anh Q, phía Bắc giáp đường hẻm, trị giá diện ích đất là 151.400.000 đồng (Mộ răm năm mươi mốt triệu bốn răm nghìn đồng).

Yêu cầu của Bà T phân chia tài sản cụ thể: Bà T yêu cầu được sở hữu ½ trị giá căn nh xâ cấp 4 trị giá 71.396.640 đồng và sử dụng diện ích đất còn lại là 134 m2 (đất thổ cư) rị giá 134.000.000 đồng trong diện tích 165,6 m2 do NLQ1 đứng ên đăng ký. Như vậy, bà T giao cho anh Q được sở hữu căn nh , nhưng anh Q phải thanh toán cho bà giá trị của ½ căn nh 71.396.640 đồng, còn diện tích đất 100m2 gắn liền căn nh hì giao cho anh Q sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyế cũng như ại phiên tòa, bà T và anh Q đều thừa nhận sau khi ly hôn anh Q và bà T tự thỏa thuận phân chia tài sản như au: Nh v đất tại Thôn Phước T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; anh Q đồng ý giao cho bà T sở hữu, sử dụng: Nh v đất tại Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận giao cho anh Q sở hữu, sử dụng. Hiện nay, bà T và anh Q đã m hủ tục giấy tờ nh v đấ được sở hữu, sử dụng là phù hợp theo sự thỏa thuận của bà T và anh Q. Vì vậy, yêu cầu của bà T về phân chia ½ giá trị căn nh ại Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận. Tại phiên òa, ngu ên đơn b Nguyễn Thị Mỹ T rút một phần kháng cáo đối với yêu cầu chia tài sản là quyền sử dụng đất 100m2 v căn nh cấp 4 gắn liền với diện ích đất này. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 289, Điều 295 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần vụ án đối với yêu cầu kháng cáo chia tài sản chung là quyền sử dụng đất 100m2 v căn nh cấp 4 gắn liền với diện ích đất này, tọa lạc tại Kp2, phường T, thị xã L.

Về yêu cầu chia tài sản chung của bà Nguyễn Thị Mỹ T đối với diện tích 134m2 đất, Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào giấ mua bán đất ngày 20/6/2012 thì toàn bộ diện ích đất trên nằm trong diện tích 234m2 đã được vợ chồng bà T, ông Q nhận chuyển nhượng của NLQ1 với số tiền 75.000.000 đồng. Số tiền này vợ chồng Bà T, ông Q đã hanh oán đủ cho NLQ1. Trong quá trình giải quyết vụ án, NLQ1 không có yêu cầu độc lập về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán đất ngày 20/6/2012 vô hiệu. Mặ khác, căn cứ vào Khoản 1 Điều 136 của Bộ luật dân sự năm 2005, hì hời hiệu để yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên giữa bà T, ông Q với NLQ1 vô hiệu đã hết. Như vậy, có căn cứ để khẳng định quyền sử dụng đấ đối với diện ích đất 234m2 là tài sản chung của vợ chồng bà T, ông Q, rong đó có 134m2 là tài sản chung chưa chia. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà T đối với diện tích đất này. Hiện nay, thửa đấ rên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho NLQ1 v được bà chuyển mục đích ử dụng đấ ang đất ở và thực hiện ngh a vụ tài chính heo u định của pháp luật, tại phiên tòa, bà T yêu cầu chia tài sản chung và đồng ý nhận giá trị tài sản được chia mà không nhận bằng hiện vật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà. Theo Chứng hư hẩm định giá thì trị giá diện ích đất trên là: 134m2 x 1.985.000 đồng/m2 = 253.930.000 đồng. Cần xác định số tiền này là tài sản chung của bà T, ông Q, buộc NLQ1 phải trả cho bà T, ông Q mỗi người 126.965.000 đồng.

Đối với yêu cầu kháng cáo về án phí, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đâ

vụ án tranh chấp chia tài sản chung, đương ự phải chịu án phí ương ứng với trị giá tài sản m mình được thụ hưởng. Tòa án cấp ơ hẩm buộc bà T phải chịu án phí đối với phần yêu cầu bị bác không đúng u định tại Điều 12 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ng 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, gây thiệt hại cho đương ự.

Về án phí dân sự ơ hẩm và chi phí thẩm định giá tài sản: Các đương ự phải chịu án phí dân sự ơ hẩm và chi phí thẩm định giá tài sản heo u định của pháp luật.

Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà T được chấp nhận một phần nên bà không phải chịu án phí heo u định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm c Khoản 1 Điều 289, Điều 295, Điều 296, Khoản 2 Điều 308, Khoản 1 Điều 148 v Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mỹ T;

Sửa bản án ơ hẩm số 226/2917/HNGĐ-ST ngày 13/9/2017 của Tòa án nhân dân thị xã L.

Áp dụng:

- Điều 136, Điều 401, 697, 698 Bộ luật dân sự 2005;

- Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;

- Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH.12, ngày 27/02/2009;

- Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP, ng 13/6/2012.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ T về việc chia ½ giá trị tài sản chung đối với diện ích đất 134m2, tọa lạc tại Kp2, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Buộc NLQ1 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Mỹ T và ông Đinh Văn Q số tiền là 253.930.000 đồng. Bà T, ông Q mỗi người được sở hữu một nữa số tiền NLQ1 thanh toán là 126.965.000 đồng.

Kể từ ng có đơn êu cầu thi hành án của người được hi h nh án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được hi h nh án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qu định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, rừ rường hợp pháp luậ có u định khác.

2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần vụ án đối với yêu cầu kháng cáo chia tài sản chung là quyền sử dụng đấ đối với diện ích đất 100m2 v căn nh cấp 4 gắn liền với diện ích đất này, tọa lạc tại Kp2, phường T, thị xã L.

3. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu 6.348.000 đồng án phí dân sự ơ hẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp 3.125.000 đồng, theo biên lai số 0003689 ngày 08/10/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. bà T còn phải nộp 3.223.000 đồng án phí dân sự ơ hẩm.

Bà Nguyễn Thị Mỹ T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010419 ngày 28/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L.

Ông Đinh Văn Q phải chịu 6.348.000 đồng án phí dân sự ơ hẩm.

4. Về chi phí định giá tài sản: Chi phí định giá tài sản là 4.900.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Mỹ T và ông Đinh Văn Q mỗi người phải chịu 2.450.000 đồng. Bà T đã nộp đủ số tiền chi phí định giá tài sản nên ông Đinh Văn Q phải trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ T số tiền 2.450.000 đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (07/5/2019).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ