vanban.org

Bản án 07/2019/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng cá c Điề u 280; 351; 357; 430; khoản 1, 3 Điề u 440; Điề u 468 của Bộ luậ t Dân sự . Khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điề u 147; Điề u 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H, buộc chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H tổ ng số tiền cả gốc và lãilà 65.688.000đ (sáu mươi lăm triệ u sá u trăm tá m mươi tá m nga… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Nguyễn Thị D - Hoàng Thị L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng cá c Điề u 280; 351; 357; 430; khoản 1, 3 Điề u 440; Điề u 468 của Bộ luậ t Dân sự . Khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điề u 147; Điề u 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2019/DS-ST
Ngày: 09 - 7 - 2019
V/v: Tranh chấp hợ p đồ ng
mua bá ntài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Xuân Nghiêm

2. Ông Phạ m Văn Xuân

- Thư ký phiên toà: Ông Hứ a Văn Nghiệ p - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạ m Văn Tiế n - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở, Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2019/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợ p đồ ng mua bá n tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa ngày 20/6/2019, giữa các đương sự:

1. Đồng Nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963, vắ ng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1957, vắng mặt. Ngườ i đượ c ủ y quyề n củ a ông Nguyễ n Duy H bà Nguyễ n Thị Đ(đồ ng nguyên đơn).

Cùng địa chỉ: Số N, đường B, khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

2. Đồng bị đơn:

Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1980, vắng mặt.

Anh Đào văn T, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm V, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và những lời khai tiếp theo, đồ ng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H trình bày:

Gia đì nh bà có cử a hà ng kinh doanh lương thự c , phân bó n, thứ c ăn gia súc, từ mố i quan hệ khách hàng, chị Hoàng Thị L và anh Đào văn T có đặ t vấ n đề mua nợ tiề n cám lợn và được ông, bà đồng ý, hai bên thỏ a thuậ n sau 3 tháng phải trả hết nợ , nế u sai hẹ n phả i trả lã i . Vợ chồ ng chị Hoàng Thị L và anh Đào văn T bắ t đầ u mua cá m từ ngày 31/3/2016 nhưng khi đế n hạ n lạ i không thanh toán được hế t tiề n hà ng cho gia đì nh bà theo thỏ a thuậ n mà cứ khất lần , đến tháng 4 năm 2017 chị Hoàng Thị L và anh Đào văn T còn nợ tiề n hàng là 47.372.000đ nên ông bà tính lãi của số tiền vay là 2%/tháng t ính từ tháng 5/2017 đến tháng 6/2018 vớ i tổ ng tiề n lã i là 12.575.000đ nhưng chị Hoàng Thị L và anh Đào văn T vẫ n chưa trả đượ c nợ , nên ngày 12/7/2018 hai bên đã lậ p “biên bả n đố i chiế u công nợ ” xác định số tiền hàng còn nợ là 59.947.000đ, hẹn đến 30/7/2018 sẽ trả hết số nợ nhưng đến nay vẫn chưa trả đượ c đồ ng nà o . Bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H khở i kiệ n yêu cầ u chị Hoàng Thị L và anh Đào văn T trả nợ tiề n hà ng là 59.947.000đ và yêu cầu trả lãi của số tiề n nợ trên vớ i mứ c lã i là 1%/tháng từ ngà y 01/8/2018 tạm tính đến ngày 17/01/2019 là 5,5 tháng (tổ ng 165 ngày) x 59.947.000 đồng x 1%/tháng = 3.297.000đ. Tổng cộ ng cả gốc và lãi bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H yêu cầu chị Hoàng Thị L và anh Đào văn T phải trả là 63.244.000đ.

Tại biên bản ghi lời khai ngày18/4/2019bị đơnchị Hoàng Thị L trình bày:

Năm 2017 gia đì nh chị có chăn nuôi lợn số lượng lớn nên thường xuyên

ra cửa hàng lương thực của bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H để mua cám lợn về chăn nuôi, mỗ i lầ n mua đề u ghi và ký và o sổ củ a ông bà Đ, H, bản thân chị không lậ p sổ theo dõ i riêng . Mỗ i lầ n mua chị luôn thanh toá n tiề n nợ của lần mua trước . Đế n thá ng 4 năm 2018 chị có mua cám với ông bà Đ, H 03 lầ n nhưng khi đó giá lợ n quá rẻ , không bá n đượ c nên chị không có tiề n trả . Tổ ng 3 lầ n mua nợ là 47.947.000đ chị có xin ông bà

Đ, H cho trả dầ n . Ngày 12/7/2018 ông bà Đ, H đến nhà đòi nợ, nhưng do chưa có tiề n trả nên ông bà Đ, H lậ p “biên bả n đố i chiế u công nợ ” và tính lãi là 2%/tháng tương ứng với số tiề n lãi là 12.000.000đ. Hai bên cù ng ký và o biên bả n đố i chiế u công nợ vớ i tổ ng số tiề n cò n nợ là 59.947.000đ và cho vợ chồ ng ch ị hẹn đế n 30/7/2018 phải thanh toán xong toàn bộ nợ trên, nế u không trả đượ c sẽ tí nh lã i là 3%/tháng. Tuy nhiên do kinh tế gia đì nh khó khăn chị chưa trả đượ c đồ ng nà o . Nay ông bà Đ, H khở i kiệ n, chị đồng ý trả số tiền nợ gố c là 59.947.000đ. Còn đối với yêu cầu về lãi ông, bà Đ, H đưa ra chị không đồng ý vì hiệ n gia đì nh chị khó khăn, đề nghị ông bà Đ, H giảm mức lãi tính theo lãi xuất ngân hàng để chị có khả năng trả được hế t số nợ .

Quá trình giải quyết vụ án, đồ ng bị đơn anh Đà o Văn T (chồ ng chị Hoàng Thị L) đã đượ c Tò a á n triệ u tậ p hợ p lệ nhiề u lầ n nhưng đề u vắ ng mặ t không có lý do. Tại biên bản xác minh ngày 05/3/2019 bà Cao Thị N là mẹ của anh chị L, T cho biế t hiệ n anh chị L, T đi là m thuê tạ i khu Ao Giờ i , thôn Vạ n Thắ ng , xã Hòa Thắng, huyệ n Hữ u Lũ ng, sáng sớm đi đến tối mới về , anh chị L, T thườ ng xuyên vắ ng nhà ; cũng tại biên bản làm việc cù ng ngà y 05/3/2019 đượ c Ủ y ban nhân dân xã Hò a Thắ ng cho biế t chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T vẫ n đang cư trú , sinh số ng và có đăng ký hộ khẩ u thườ ng trú tạ i thôn Vạ n Thắ ng , xã Hòa Thắ ng, huyệ n Hữ u Lũ ng , tỉnh Lạng Sơn . Hơn nữ a chị Hoàng Thị L cũng thừa nhậ n đã nhậ n đượ c giấ y triệ u tậ p và các thông báo của Tòa án, tuy nhiên do bậ n đi là m ăn đế n tố i muộ n mớ i về nên không có thờ i gian. Tòa án đã thự c hiệ n niêm yế t công khai văn bả n tố tụ ng và giấy triệu tập, nhưng anh Đà o Văn T vẫ n cố tì nh vắ ng mặ t không có lý do.

Tòa án tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải

nhưng đồ ng bị đơn vắ ng mặ t nên không tiế n hà nh hò a giả i đượ c vụ á n.

Ngày 20/6/2019 Tòa án mở phiên tòa lầ n 1 nhưng chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T đều vắ ng mặ t không rõ lý do, Hộ i đồ ng xé t xử quyế t đị nh hoãn phiên Tòa. Sau khi hoã n phiên tò a , mọi người đã ra về , đến 09 giờ 30 phút ngày 20/6/2019 chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T mớ i có mặt.

Tại phiên tòa hôm n ay nguyên đơn giữ nguyên yêu cầ u khở i kiệ n và có đơn xin xé t xử vắ ng mặ t ; đồ ng bị đơn chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T tiế p tục vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật củ a Thẩ m

phán, Hộ i đồ ng xé t xử , Thư ký và phát biểu quan điểm giải quyết nội dung vụ án như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về Thẩm quyền thụ lý vụ án; thông bá o thụ lý ; xác định tư cách những người tham gia tố tụng ; giao nộp , thu thập chứng cứ ; thủ tục cấp, thông bá o , tố ng đạ t cá c văn bả n tố tụ ng ; thời hạn chuẩn bị xét xử; thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử và

chuyể n hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đề u thự c hiệ n đúng theo quy đị nh tạ i cá c Điều 26, 39, 68, 93, 97, 179, 195, 196, 203, 208, 211, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về xá c đị nh quan hệ phá p luậ t tranh chấ p phải là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” vì bản chất quan hệ tranh chấp của đương sự phát sinh từ từ việc mua bán cám, thứ c ăn chăn nuôi , do vậ y cầ n xá c đị nh lạ i quan hệ tranh chấ p để áp dụng pháp luật phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án . Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã thự c hiệ n đú ng theo quy định của Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự . Việc chấ p hà nh pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thự c hiệ n đầ y đủ quyề n và nghĩ a vụ tố tụ ng theo quy đị nh tại Điều 70, 71 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự ; đồ ng bị đơn không có mặt theo giấy triệ u tậ p củ a Tò a á n là kh ông thự c hiệ n đú ng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn , buộ c chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T phải trả số tiề n 47.372.000đ cho bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H . Đối với khoản tiề n lã i từ tháng 5/2017 đến tháng 6/2018 (13,5 tháng) nguyên đơn yêu cầ u lã i 2%/tháng vượ t quá mứ c lã i xuấ t quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 468 Bộ luậ t Dân sự (20%/năm), do vậ y phầ n vượ t quá 4% không có hiệu lực , mứ c lã i xuấ t á p dụ ng trong trườ ng hợ p nà y là 20%/năm. Áp dụng quy đị nh tạ i Điề u 357; khoản 3 Điề u 440; khoản 1 Điề u 468 Bộ luậ t Dân sự , chị Liễ u, anh Tuấ n phả i trả số t iề n nợ là 47.372.000đ cộ ng vớ i lã i xuấ t 20%/năm tính từ tháng 5/2017 đến 31/7/2018 (13,5 tháng) xác định đây là khoản nợ gốc . Đối với yêu cầu trả lãi từ 01/8/2018 đến khi mở phiên tòa, do cá c đương sự đã tự thỏa thuận là 1%/tháng đối với nợ gốc do vậy chị Liễu , anh Tuấ n phả i trả theo mứ c lã i nêu trên; về á n phí , bị đơn phải chịu án phí dân sự c giá ngạch . Yêu cầ u kiế n nghị khắ c phụ c vi phạ m không có .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về việc xét xử vắng mặ t cá c đương sự : Tại phiên tòa ngày 20/6/2019 bị đơn vắng mặt, nên Hộ i đồ ng xé t xử quyế t đị nh hoã n phiên tò a lầ n 1. Tại phiên tòa ngày hôm nay (09/7/2019) bị đơn chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T vẫ n vắng mặt lầ n 2 không có lý do mặ c dù đã đượ c Tò a á n tố ng đạ t văn bả n tố tụ ng 02 lầ n hợ p lệ ; nguyên đơn có đơn xin xé t xử vắ ng mặ t. Do vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt tấ t cả cá c đương sự .

Về xá c đị nh quan hệ tranh chấp: Xét quan hệ tranh chấp giữa các đương sự phá t sinh từ hoạ t độ ng mua bá n hà ng hó a phụ c vụ nhu cầ u chăn nuôi phá t triể n kinh tế củ a hộ gia đì nh nên xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; bản chất tranh chấp phát sinh giữ a các đương sự trong vụ án này là việc bên mua không thanh toán tiền mua hàng cho bên bá n, do vậ y căn cứ quy đị nh tạ i Điề u 430 Bộ luậ t Dân sự xá c đị nh quan hệ tranh chấ p trong vụ á n nà y là “Tranh chấ p hợ p đồ ng muabán tài sản” như đại diện Việ n kiể m sá t đưa ra là có căn cư.́

Về thẩm quyền: Căn cứ Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự, bị đơn là cá nhân hiện cư trú , sinh số ng trên đị a bà n huyệ n Hữ u Lũ ng n ên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

Về yêu cầu trả nợ: Giao dịch giữ a bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H vớ i chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T đượ c xá c lậ p năm 2016 từ hợp đồng mua bá n hà ng hó a (cám lợn, thứ c ăn chăn nuôi ) bằ ng miệ ng . Việ c mua, bán, thanh toá n tiề n và ghi nợ đượ c lặ p đi lặ p l ại nhiều lần, đến ngày 10/5/2017 các bên không tiế p tụ c thự c hiệ n việ c mua bá n thì bên mua là chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T còn nợ bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H số tiề n hà ng là 47.372.000đ. Ngày 12/7/2018 các bên đã ký “biên bả n đố i chiế u công nợ ” xác nhậ n số tiề n nợ tí nh đế n ngà y 30/7/2018 là 59.947.000đ (đã cộ ng lã i 2%/tháng đến 30/7/2018, hẹn đến 30/7/2018 sẽ thanh toán xong nhưng chưa thanh toá n. Bị đơn chị Hoàng Thị L chấ p nhậ n trả số tiề n nợ 59.947.000đ theo yêu củ a cầ u bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H, nhưng chị không chấ p nhậ n trả lã i 3% theo thỏa thuận tại biên bả n đố i chiế u công nợ , mà yêu cầu tính theo lãi xuất ngân hàng. Đồng bị đơn anh Đà o Văn T , tuy không tham gia tố tụ ng theo quy đị nh nhưng chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T là vợ chồng, hiệ n số ng chung nhà nên xác định anh Đà o Văn T có biết việc bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H đang khở i kiệ n anh và chị Liễ u nhưng anh Tuấ n lạ i không có ý kiế n gì nên xá c đị nh anh Đà o Văn T cũng nhất trí với quan điểm, ý kiến của vợ là chị Hoàng Thị L đã khai. Xét thấy, có căn cứ xá c đị nh bị đơn chưa thanh toán tiền hàng cho nguyên đơn, vì vậy cần buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán tiền hàng còn nợ cho nguyên đơn.

Về số tiề n gố c phả i thanh toá n: theo biên bả n đố i chiế u công nợ hai

bên xá c nhậ n tổ ng số tiề n nợ là 59.947.000đ đã cộ ng lãi 2%/tháng từ tháng 5/2017 đến tháng 7/2018. Tuy nhiên thỏ a thuậ n về mứ c lã i xuấ t 2%/tháng nêu trên đã vượ t quá mứ c lã i xuấ t quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 468 Bộ luậ t Dân sự (không đượ c vượ t quá 20%/năm), do vậ y phầ n vượ t quá 4% mà các đương sự thỏa thuận không có hiệu lực. Căn cứ Điề u 357; khoản 3 Điề u 440; khoản 1 Điề u 468 Bộ luậ t Dân sự , xác định lãi từ 11/5/2017 đến 31/7/2018 là 14 tháng 20 ngày (tổ ng 445 ngày) x 47.372.000đ x 20%/năm (tương ứ ng 1,66%/tháng) = 11.664.565đ + 47.372.000đ = 59.036.565đ là tổ ng số tiề n gố c chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H.

Về yêu cầ u trả lã i: Tại biên bản đối chiế u công nợ hai bên thỏ a thuậ n

lãi xuất là 3%/tháng tính từ ngày 01/8/2018, tuy nhiên ngày 20/4/2019 chị Hoàng Thị L cung cấ p cho Tò a á n 01 giấ y xin khấ t nợ , nộ i dung thể hiệ n chị Liễ u thừ a nhậ n hiệ n cò n nợ bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H số tiề n 60.000.000đ từ ngà y 01/8/2018 vớ i lã i xuấ t là 1%/tháng, nhưng chị xin đượ c trả dầ n. Như vậ y có căn cứ xá c nhậ n chị Hoàng Thị L đồ ng ý trả lã i 1%/tháng như nguyên đơn yêu cầ u. Xét thấy, cầ n chấ p nhậ n yêu cầ u củ a nguyên đơn , buộ c chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T phải trả lãi 1%/tháng đối với số tiền nợ gốc 59.036.565đ tí nh từ ngà y 01/8/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm (09/7/2019) là 11 tháng 08 ngày (tổ ng 338 ngày), tương ứ ng vớ i số tiề n lã i phả i trả là 6.651.452đ. Tổ ng cộ ng cả gố c và lã i chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T phải trả cho bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H là 65.688.000đ.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H đượ c chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H không phả i chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T phải chịu án phí dân sự có giá ngạch để sung ngân sách Nhà nước theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 147 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự ; điể m b khoả n 1 Điề u 24; khoản 2 Điề u 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng cá c Điề u 280; 351; 357; 430; khoản 1, 3 Điề u 440; Điề u 468 của Bộ luậ t Dân sự . Khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điề u 147; Điề u 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điể m b khoả n 1 Điề u 24; khoản 2 Điề u 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H, buộc chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H tổ ng số tiền cả gốc và lãilà 65.688.000đ (sáu mươi lăm triệ u sá u trăm tá m mươi tá m ngà n đồ ng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Buộc chị Hoàng Thị L và anh Đà o Văn T phải chịu 3.284.400đ (ba triệ u hai trăm tá m mươi bố n ngà n bố n trăm đồ ng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch sung ngân sách nhà nước.

Hoàn trả cho bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H tổ ng số tiề n

3.358.000đ (ba triệ u ba trăm năm mươi tá m ngà n đồ ng) tạm ứng án phí đã nộp theo cá c biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2012/0000984 ngày 04/01/2019 và số AA/2012/0000985 ngày 08/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n xử vắ ng mặ t hoặ c kể từ ngà y bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ