- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "Anh Trần Duy T "Tranh chấp tiền lương""
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy T: Buộc Công ty cổ phần mía đường H phải trả cho anh Trần Duy T gồm tiền lương và trợ cấp thôi việc là 30.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 07/2018/LĐ-ST Ngày: 17 -10 - 2018 “Tranh chấp đòi tiền lương và trợ cấp thôi việc” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hoàng.
Bà Nguyễn Thị Rạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa: Ông Nguyễn Văn Còn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2018/TLST-LĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018 về việc “Đòi tiền lương” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2018/QĐXXST-LĐ ngày 31 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Duy T, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Khu 2, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh L.
2. Bị đơn: Công ty cổ phần mía đường H.
Địa chỉ trụ sở: Khu 1, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh L.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nandaa Kumar B - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
(Anh T có mặt, ông Nandaa Kumar B vắng mặt - Đã triệu tập hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 4 năm 2018 và quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Duy T trình bày: Anh làm việc tại Công ty cổ phần mía đường H từ tháng 02 năm 1996 cho đến ngày 06/02/2016 anh làm đơn xin nghỉ việc và được Công ty đồng ý.
Ngày 06 tháng 02 năm 2016, Công ty cổ phần mía đường H ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với anh. Theo Quyết định thì anh được hưởng các khoản là 29.077.750 đồng, đồng thời Công ty còn nợ anh tiền lương làm việc tháng 01/2016 trước khi chấm dứt hợp đồng lao động là 1.096.000 đồng và tháng 02/2016 là 1.876.900 đồng, tổng cộng là 32.050.650 đồng nhưng đến nay Công ty chưa trả cho anh số tiền trên nên anh yêu cầu giải quyết buộc Công ty cổ phần mía đường H trả cho anh số tiền 32.050.650 đồng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa có thông báo thụ lý vụ án cho Công ty cổ phần mía đường H biết về yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy T nhưng người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần mía đường H không có ý kiến phản hồi, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã tiến hành các thủ tục tố tụng tiếp theo quy định của pháp luật nhưng đại diện của Công ty cổ phần mía đường H cũng không đến Tòa án, do đó anh T đề nghị không tiến hành hòa giải.
Tại phiên tòa, anh T chỉ yêu cầu Công ty cổ phần mía đường H trả cho anh số tiền trợ cấp thôi việc theo quyết định chấm dứt hợp đồng lao động ngày 06/02/2016 là 29.077.750 đồng và tiền lương tháng 01/2016 còn nợ là 1.096.000 đồng, tổng cộng là 30.173.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật của Tòa án và quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng, từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
1.1. Anh Trần Duy T đòi Công ty cổ phần mía đường H trả tiền lương và trợ cấp thôi việc là thuộc quan hệ tranh chấp lao động “Đòi tiền lương và trợ cấp thôi việc” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 32 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Công ty cổ phần mía đường H là bị đơn có địa chỉ trụ sở tại khu 1, thị trấn H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.3. Công ty cổ phần mía đường H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty cổ phần mía đường H theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
2.1. Anh Trần Duy T yêu cầu Công ty cổ phần mía đường H trả số tiền là 30.173.000 đồng, trong đó tiền trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động là 29.077.750 đồng và tiền nợ lương tháng 01/2016 là 1.096.000 đồng.
2.2. Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa về yêu cầu khởi kiện của anh T đã được tống đạt hợp lệ cho Công ty cổ phần mía đường H nên Công ty cổ phần mía đường H đã biết yêu cầu khởi kiện của anh T nhưng không có ý kiến phản hồi và cũng không phản bác nên xem như Công ty mặc nhiên chấp nhận số tiền anh T đòi.
2.3. Theo quyết định về việc chấm dứt hợp đồng lao động ngày 06/2/2016 của Công ty cổ phần mía đường H thì Công ty phải trả cho anh T số tiền trợ cấp các khoản khi thôi việc là 29.077.750 đồng và Công ty còn nợ anh T trả tiền lương tháng 01/2016 là 1.096.000 đồng nên anh T yêu cầu Công ty cổ phần mía đường H trả số tiền trên là có cơ sở.
2.4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy T là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 48 và 96 của Bộ luật lao động nên buộc Công ty cổ phần mía đường H phải trả cho anh T số tiền 30.173.000 đồng.
2.5. Do yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy T được chấp nhận nên buộc Công ty cổ phần mía đường H phải chịu án phí lao động sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 48, Điều 96 của Bộ luật lao động và Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy T: Buộc Công ty cổ phần mía đường H phải trả cho anh Trần Duy T gồm tiền lương và trợ cấp thôi việc là 30.173.000 đồng (Ba mươi triệu một trăm bảy mươi ba ngàn đồng).
Trường hợp chậm thi hành số tiền trên thì phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Án phí: Buộc Công ty cổ phần mía đường H phải chịu 905.000 đồng (Chín trăm lẻ năm ngàn đồng) án phí lao động sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Long An; -VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Dƣơng Thị Kim Thanh |