vanban.org

Bản án 07/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 26/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

- Căn cứ điể m g khoản 2 Điề u 173; Điể m s khoản 1, khoản 2 Điề u 51 Bộ luậ t

hình sự năm 2015 sử a đổ i, bổ sung 2017 đố i vớ i bị cáo Nguyễn Đì nh T: Xử phạt bị cáo Nguyễ n Đì nh T (T Bắ c) 03 (Ba) năm tù về tộ i “Trộ m cắ p tà i Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? - Căn cứ điể m g khoản 2 Điề u 173; Điể m s khoản 1, khoản 2 Điề u 51 Bộ luậ t
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHÁNH VĨNH – TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2018/HSST

Ngày: 26/12/2018

HUYỆN KHÁNH VĨNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHÁNH VĨNH – TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Phùng Văn Thức Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thành Xuân 2/ Ông Huỳnh Xuân Lộc -Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễ n Xuân Tuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thoa - Kiểm sát viên. Ngày 26 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo: 1. Họ và tên bị cáo: Nguyễn Đình T Sinh năm 1972. Tên gọi khác: T Bắc Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh K. Chỗ ở: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh K. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: Lớp 08/12. Nghề nghiệp: Không Họ tên cha: Nguyễn Khắc P (đã chết) Họ tên mẹ: Trần Thị Đ. Sinh năm: 1951. Vợ: Phạm Thị H. Sinh năm: 1970 Con: 03 con ( Lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2010). - Tiề n á n: Ngày 15/8/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không;

- Nhân thân: Ngày 19/6/1991, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/7/1993, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 21/7/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ngày 22/12/2006, bị Tòa án nhân dân TP. Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm 3 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; - Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tò a. 2. Ngườ i bị hạ i: - Nguyễn T Sinh năm 1980. Chỗ ở: Tổ 2, Thị trấn K, huyện K, tỉnh K. Có mặt 3. Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan: - Nguyễ n Thị L Sinh năm 1982. Chỗ ở: Tổ 2, Thị trấn K, huyện K, tỉnh K. Có mặt 4. Ngườ i Là m Chứ ng: - Nguyễn Đắc D Sinh năm 1979 Chỗ ở: Tổ 2, Thị trấn K, huyện K, tỉnh K. Vắ ng mặ t

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 18/10/2018, Nguyễn Đình T, sinh năm 1972, trú tại Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh K bắt xe bus đi từ huyện Diên Khánh lên huyện Khánh Vĩnh với mục đích trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Khi lên đến khu vực tổ 2, TT Khánh Vĩnh, Nguyễn Đình T xuống xe bus rồi đi bộ đến đường bê tông gần chợ Khánh Vĩnh thì phát hiện 01 xe mô tô BKS 79X1 – 1839, nhãn hiệu Honda của anh Nguyễn T đang dựng trên đường, chìa khóa vẫn còn cắm trong ổ điện. Quan sát thấy không có người trông coi, T tiến lại gần, lên xe, nổ máy rồi chạy về nhà tại thôn Đông, xã Diên Điền, huyện Diên Khánh cất dấu. Sau khi tiếp nhận đơn báo mất tài sản của anh Nguyễn T, Cơ quan CSĐT công an huyện Khánh Vĩnh đã ban hành thông báo tìm kiếm tang vật (xe mô tô BKS 79X1 – 1839), gửi đến công an các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa để phối hợp xử lý. Đến 20 giờ 45 phút cùng ngày, Công an xã Diên Điền, huyện Diên Khánh đã phát hiện và thu giữ xe mô tô BKS 79X1-1839 tại nhà của Nguyễn Đình T và bàn giao cho Công an huyện Khánh Vĩnh để xử lý theo thẩm quyền. Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số 12 ngày 20/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Khánh Vĩnh kết luận: Xe mô tô BKS 79X1-1839 do Nguyễn Đình T trộm cắp ngày 18/10/2018 có giá trị 6.926.000 đồng (Sáu triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Khánh Vĩnh thu giữ 01 xe mô tô BKS 79X1-1839 – Là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn T nên đã trả lại cho chủ sở hữu. Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSKV, ngày 29 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đì nh T về tội “Trộ m cắ p tà i sả n ” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sử a đổ i bổ sung 2017. Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đã đá nh giá tí nh chấ t nguy hiể m cho xã hộ i củ a hà nh vi “ Trộ m cắp tài sản” của bị cáo , đá nh giá cá c tì nh tiế t tăng nặ ng , tình tiết giảm nhẹ trách nhiệ m hì nh sự và nhân thân củ a bị cá o giữ nguyên quan điểm truy tố, luậ n tộ i bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điể m g khoản 2 Điều 173; Điể m s khoản 1, khoản 2 Điề u 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sử a đổ i bổ sung năm 2017. Đề nghị x ử phạt bị cáo Nguyễn Đì nh Thọ mứ c á n từ 03 (Ba) năm đế n 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y 19/10/2018. Về dân sự: Bị hại Nguyễ n T không yêu cầu. Đề nghị HĐXX không xé t phầ n dân sự . Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô BKS 79X1-1839 – Là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn T đã trả lại cho chủ sở hữu theo biên bả n về việ c trả lạ i tà i sả n ngày 15/11/2018 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh đối với ông Nguyễ n T. Đề nghị HĐXX không xé t Về á n phí: Bị cáoT phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Tại phiên Tòa, ngườ i bị hạ i đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cá o. Bị cáo T nói lời nói sau cùng : Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin H ội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng . Tuy nhiên, không ả nh hưở ng đế n việ c xé t xử bị cáo nên HĐXX căn cứ vào 293 BLTTHS năm 2015. Xét xử vắng mặt ngườ i là m chứ ng. [2] Trong quá trì nh điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thự c hiện đú ng về thẩ m quyền, trình tự , thủ tục theo quy đị nh của Bộ uật Tố tụng hì nh sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiế n hoặc khiế u nại về hành vi, quy trì nh của cơ quan tiế n hành tố tụng, người tiế n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

- Lờ i khai nhậ n tộ i củ a Nguyễ n Đì nh T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lờ i khai, bản cung của bị cáo trong quá trình điều tra , phù hợ p vớ i lờ i khai củ a bị hạ i, ngườ i là m chứ ng và cá c tà i liệ u chứ ng cứ khá c có trong hồ sơ vụ á n . Như vậ y, có đủ cơ sở để kế t luậ n : Vào khoảng 14 giờ ngày 18/10/2018 tại Tổ 2, TT Khánh Vĩnh, huyện Khánh Vĩnh, Nguyễn Đình T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy BKS 79X1- 1839, hiệu Honda trị giá 6.926.000 đồng (Sáu triệu chín trăm hai mươi sáu ngàn đồng) của anh Nguyễn T. Tại c áo trạng của Viện kiể m sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khá nh Hò a truy tố bị cáo T về tội ‘Trộ m cắ p tà i sả n” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ , đú ng ngườ i, đú ng tộ i, đú ng phá p luậ t. Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyề n sở hữ u về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra. - Xét về tiề n á n và nhân thân của bị cáo T: Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiề u lầ n bị kết án nhưng không cải sửa lỗi lầm , hiệ n tạ i đang có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”: Ngày 15/8/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa đượ c xó a á n tí ch , bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản củ a anh Nguyễ n T thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộ c trườ ng hợ p tá i phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điề u 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, cần xử phạt với mức án nghiêm khắ c, tương xứ ng vớ i hà nh vi mà bị cá o đã thự c hiệ n cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răng đe, giáo dục, phòng ngừa chung. - Tuy nhiên, Sau khi phạ m tộ i , bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản đã được thu giữ trả lạ i cho chủ sở hữ u, tại phiên tòa bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo , đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cá o khi á p dụ ng hì nh phạ t. - Do bị cá o Nguyễ n Đì nh T có hoàn cảnh kinh tế khó khăn , không có công ăn , việ c là m, không có thu nhậ p ổ n đị nh nên không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạ t tiề n quy đị nh tạ i khoả n 5 Điề u 173 đố i vớ i bị cá o. - Đối với hành vi trộ m cắ p tà i sả n ngà y 16/10/2018 do bị cá o khai , Công an huyệ n Diên Khá nh đang xác minh và xử lý theo thẩ m quyề n. [4] Đối vớ i ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L liên quan đến việ c đứ ng tên trong cà vẹ t xe mô tô BKS 79X1-1839. Tại phiên tòa khẳng định chiế c xe thuộ c quyề n sở hữ u củ a ông Nguyễ n T nên giao cho ông T quản lý sử dụng. [5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễ n T đã nhậ n lại tài sản, tại phiên tòa không yêu cầu gì thêm, Hộ i đồ ng xé t xử không xé t. [6] Về á n phí : Bị cáo Nguyễn Đì nh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. - Căn cứ điể m g khoản 2 Điề u 173; Điể m s khoản 1, khoản 2 Điề u 51 Bộ luậ t hình sự năm 2015 sử a đổ i, bổ sung 2017 đố i vớ i bị cáo Nguyễn Đì nh T: - Xử phạt bị cáo Nguyễ n Đì nh T (T Bắ c) 03 (Ba) năm tù về tộ i “Trộ m cắ p tà i sản”. Thờ i hạ n chấ p hà nh hì nh phạ t tù tính từ ngày 19/10/2018. - Do bị cá o Nguyễ n Đì nh T không có công ăn, việ c là m, không có thu nhậ p nên không á p dụ ng khoả n 5 Điề u 173 đố i vớ i bị cá o. 2. Về án phí: Căn cứ và o Điề u 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về án phí và lệ phí Tòa án . Bị cáo Nguyễn Đì nh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghì n) đồ ng. 3. Quyền kháng cáo: - Trong thờ i hạ n 15 ngày kể từ ngày tuyên án , bị cáo Nguyễ n Đì nh T, bị hại Nguyễ n T, ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan Nguyễ n Thị L có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ