vanban.org

Bản án 07/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hương Trà, TP. Huế Tuyên án 11/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn Ph (tên gọi khác: Cu Mến) phạm các tội “Cướp tài sản” và “Hiếp dâm”;

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tuyên xử: Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "phan văn p - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn Ph (tên gọi khác: Cu Mến) phạm các tội “Cướp tài sản” và “Hiếp dâm”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 111 Bộ luật Hình sự; Điều 133 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/HS-ST
Ngày: 11 – 04 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Anh Hiến

2. Ông Nguyễn Tiến Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Ẩn, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 04 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2018 đối với bị cáo Phan Văn Ph(tên gọi khác: Cu Mến), sinh ngày 12/12/1992 tại: Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: phòng 203 G2 khu định cư, KV5, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Phan Thị H; bố: không xác định; tiền án: không (Được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14...) tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/8/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế kết án 03 năm tù về tội cố ý gây thương tích; chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/7/2015; tạm giữ ngày 13/10/2017; tạm giam từ ngày 19/10/2017 đến nay.

Bị hại:

1. Chị Trần Thị Bích Nh; Địa chỉ: 74 Nguyễn Sinh Cung, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt

2. Chị Nguyễn Thị Huyền Tr. Địa chỉ: 27/2/12 Bảo Quốc, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Th; Địa chỉ: tổ 2, phường T, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt

Người làm chứng: Ông Trần Duy H; Địa chỉ: tổ 2, phường T, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 12 tháng 10 năm 2017, giả vờ nhận Chị Trần Thị Bích Nh vào làm ở quán internet do Phan Văn Ph làm chủ, Ph hẹn gặp chị Nhđến siêu thị Co.orp Mart, thành phố Huế. Tưởng thật, chị Nh đi xe mô tô BKS: 51F1-4147 đến gặp Ph. Sau khi gặp nhau, Ph chở Nh chạy về khu vực cồn mồ thuộc thôn, xã H, thị xã H rồi dừng xe lại ngoài đường và nói với chị Nh đi bộ vào thắp hương cùng với Ph. Chị Nh đi theo Ph vào bên trong nghĩa địa, thấy vắng vẻ nên sợ không đi nữa. Lúc này Ph dùng tay phải chụp cổ áo chị Như, tay trái cầm chìa khoá xe mô tô dí vào phía sau cổ chị Nh đe doạ. Do hoảng sợ chị Nh nói: “Anh để em tự đi” và tiếp tục đi theo Ph vào đến 01 khu lăng mộ cách đường 58m65 thì Ph dừng lại và nói chị Nh cởi áo quần ra. Khi chị Nh cởi áo khoác ra thì Ph thấy trên người chị Nh có đeo 01 sợi dây chuyền và 01 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng nên Ph buộc chị Nh tháo ra và lấy số tài sản trên bỏ vào túi quần. Sau đó Ph tiếp tục buộc chị Nhcởi áo quần ra còn Ph kéo quần mình xuống dùng tay kéo đầu chị Nhngậm dương vật rồi đưa dương vật vào âm hộ chị Như. Giao cấu xong, Ph thấy chị Nhcòn có 01 cái ví nên lục tìm bên trong thì thấy có 2.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 7 (hàng Trung Quốc), 01 điện thoại di động Sky Vega A870K. Ph lấy số tài sản trên rồi nói chị Nhmặc áo quần vào để chở Ph về. Khi đến vị trí để xe, chị Nhxin lại sim điện thoại thì Ph trả lại 01 điện thoại Sky Vega A870K và hai sim điện thoại. Khi Như chở Ph đi một đoạn thì Ph nói dừng xe, chị Nhdừng xe và xin lại tiền để mua thuốc tránh thai thì Ph đưa lại 100.000 đồng rồi đi bộ vào khu chung cư phường H, khoảng 15 phút sau Ph đem 01 đôi bông tai và 01 sợi dây chuyền vừa chiếm đoạt được đến tiệm vàng D (do bà Lê Thị T là chủ tiệm) ở đường Tản Đà, phường H bán cho ông Trần Duy H. Ông H thử chất lượng vàng và đồng ý mua 01 đôi bông tai với giá 570.000 đồng. Đối với 01 sợi dây chuyền, qua thử chất lượng ông H xác định là vàng giả nên không mua và trả lại cho Ph. Do không bán được dây chuyền nên trên đường về, Ph ném xuống bãi cỏ ở gần Trường Mầm non H. Điện thoại Iphone 7, Ph không sử dụng được nên ném xuống khu vực ruộng phía sau chung cư phường H.

Quá trình điều tra, Phan Văn Ph khai nhận với thủ đoạn tương tự, vào ngày 23 tháng 9 năm 2017, Ph còn thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 23 tháng 9 năm 2017, Ph hẹn gặp Chị Nguyễn Thị Huyền Tr tại chợ H thành phố H và hứa hẹn cho mượn tiền thì chị Tr đồng ý và chạy xe mô tô đến, chở Ph chạy về khu vực cồn mồ thuộc thôn Triều Sơn Trung, xã Hương Toàn, thị xã Hương Trà thì dừng xe lại rồi nói chị Tr đi cùng Ph vào mộ để thắp hương. Chị Tr đi bộ theo Ph vào đến 01 lăng mộ cách vị trí dừng xe 51m35 thì dừng lại không đi nữa vì sợ, thấy vậy Ph dùng tay trái cầm tay phải của chị Tr, tay phải lấy 01 con dao chuẩn bị từ trước đe doạ. Chị Tr hoảng sợ nên nói: “Anh cất dao đi” thì Ph lùi lại để cây dao trên thành lăng mộ và nói: “Cởi áo quần ra”. Khi chị Tr cởi áo khoác ra thì Ph thấy trên người chị Tr có đeo 01 sợi dây chuyền và 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng nên Ph buộc chị Tr tháo ra đưa cho Ph. Thấy Trân còn đeo 01 túi xách nên Ph giật lấy túi xách lục tìm bên trong thấy có 1.450.000 đồng và 01 điện thoại di động OPPO A37. Do chị Tr khóc và nói có nuôi con nhỏ nên Ph chỉ lấy điện thoại và số tiền 1.200.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt tài sản, Ph tiếp tục kéo quần mình xuống rồi kéo đầu chị Tr buộc ngậm dương vật của Ph để thoả mãn sinh lý. Sau đó Ph nói chị Tr mặc áo quần vào chở Ph về. Lúc này chị Tr xin lại tiền thì Ph đưa lại cho chị Tr 200.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Ph đem 01 chiếc nhẫn vàng đến bán tại tiệm vàng D với giá 300.000 đồng. Ngày 10/10/2017 Ph tiếp tục đem 01 sợi dây chuyền vàng đến tiệm vàng D cầm cố với số tiền 1.000.000đ, còn 01 điện thoại di động OPPO A37 Ph để sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSHT ngày 07/3/2018 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà đã truy tố bị cáo Phan Văn Phvề tội “Cướp tài sản” theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự 1999 và tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 111 Bộ luật Hình sự 1999.

Lời khai của chị Nh, chị Tr trong quá trình điều tra đều phù hợp với lời khai của bị cáo Ph.

Vật chứng vụ án đang thu giữ gồm:

- 01 chìa khoá xe mô tô dài 10cm; tay cầm bằng nhựa màu đen dài 3cm, có ghi chữ HONDA, phần lưỡi dài 7cm bằng kim loại trên có ghi ký hiệu P108;

- 01 phong bì dán kín có niêm phong gồm: phần còn lại mẫu dịch âm đạo mẫu tóc thu của Trần Thị Bích Nh; mẫu tóc của Phan Văn Ph; 01 áo sơ mi ngắn tay màu trắng có ghi chữ UNIQ-LO MADE IN CHINA; 01 quần lót màu hồng, có nhãn hiệu QICQIY-IZI; 01 băng vệ sinh đã qua sử dụng, bên ngoài vỏ bọc có chữ Kotex; toàn bộ mẫu máu, tế bào niêm mạc miệng thu của Trần Thị Bích Nh và Phan Văn Ph;

- 01 giấy biên nhận của Văn Ph và tiệm vàng D;

- Tiền Việt Nam đồng: 2.200.000 đồng;

Về trách nhiệm dân sự:

- Chị Nh yêu cầu bị cáo Ph trả lại 1.900.000 đồng.

- Bà Th yêu cầu bồi thường 1.570.000 đồng là số tiền đã bỏ ra mua 01 đôi bông tai vàng và nhận cầm cố 01 sợi dây chuyền vàng của Ph.

- Chị Tr yêu cầu Ph bồi thường số tiền 1.000.000 đồng và giá trị 01 chiếc nhẫn vàng là 353.000 đồng. Tổng cộng là 1.353.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hương Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn Ph đã khai nhận:

Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 12/10/2017 Phan Văn Ph hẹn gặp chị Nh siêu thị Co.orp Mart, thành phố H rồi tìm cách lừa chị đến và vào trong khu vực cồn mồ thuộc thôn Triều Sơn Trung, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại đây Ph dùng tay phải chụp cổ áo chị Như, tay trái cầm chìa khoá xe mô tô dí vào phía sau cổ chị Nhđe doạ buộc chị Nhhải giao tài sản cho Ph đồng thời thực hiện giao cấu với chị Nh trái ý muốn của chị.

Tài sản mà Ph chiếm đoạt được gồm: 01 sợi dây chuyền, 01 đôi bông tai, 01 điện thoại di động Iphone 7 (hàng Trung Quốc), 01 điện thoại di động Sky Vega A870K và 2.000.000 đồng.

Tại bản kết luận pháp y về tình dục số 306-17/TD ngày 17/10/2017, Trung tâm pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:

“1. Bộ phận sinh dục của Trần Thị Bích Nh: Màng trinh rách cũ không hoàn toàn vị trí 5 giờ. Tổn thương bầm tụ máu mới niêm mạc màng trinh góc 5 giờ, bầm tụ máu dưới lỗ tiểu góc 7 giờ. Xây xát, bong tróc niêm mạc âm hộ tầng sinh môn. Các tổn thương có độ tuổi từ khoảng 6-8 giờ so với thời điểm giám định.

2. Trên cơ thể có nhiều vết xây xát nông ở vai, tay, chân. Các tổn thương có độ tuổi từ 6-8 giờ.

3. Kết quả xét nghiệm dịch âm đạo có hình ảnh tế bào tinh trùng.

4. Tỷ lệ tổn thương cơ thể:

Đa xây xát nông cơ thể: 1%.

Đa tổn thương xây xát và bầm tụ máu niêm mạc âm hộ-màng trinh: 1%.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể chung do thương tích gây nên hiện tại là: 2%. (Hai phần trăm)”.

Tại bản kết luận giám định số 702/C54C (Đ5) ngày 28/10/2017, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận trong mẫu dịch âm đạo, trên quần lót, trên băng vệ sinh và trên áo sơ mi thu của nạn nhân Trần Thị Bích Nh có xác tinh trùng của Phan Văn Ph.

Tại Kết luận về việc định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2017 Hội đồng định giá tài sản kết luận: Giá trị 01 đôi bông tai bằng kim loại vàng, khối lượng 0,39 chỉ, chất lượng 50% vàng tại thời điểm bị xâm phạm: 690.300 đồng .

Tại Kết luận về việc định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2017 Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 7 (hàng Trung Quốc) có giá trị: 400.000 đồng; 01 điện thoại di động Sky Vega A870K có giá trị: 400.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo Ph chiếm đoạt của chị Nhlà: 3.490.300 đồng.

Với thủ đoạn tương tự, Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 23/9/2017, Ph hẹn gặp Chị Nguyễn Thị Huyền Tr ở chợ H, thành phố H sau đó tìm cách lừa chị đến và đi vào trong khu vực cồn mồ thuộc thôn T, xã H, thị xã H. Tại đây Ph dùng dao đe doạ chị Tr để chiếm đoạt tài sản. Vì quá hoảng sợ nên chị Tr buộc phải giao tài sản cho Ph. Tài sản mà Ph chiếm đoạt được gồm: 01 sợi dây chuyền, 01 chiếc nhẫn kim loại vàng, 01 điện thoại di động OPPO A37 và 1.200.000đồng.

Tại Kết luận về việc định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2017, Hội đồng định giá tài sản thị xã H kết luận: Giá trị 01 dây chuyền kim loại vàng, khối lượng 1,35 chỉ, chất lượng 50% vàng tại thời điểm bị xâm phạm: 2.382.750đồng.

Tại Kết luận về việc định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2018 Hội đồng định giá tài sản thị xã H kết luận: Giá trị 01 nhẫn kim loại vàng có khối lượng 0,2 chỉ, vàng 12K tại thời điểm bị xâm phạm: 353.000đồng .

Tại Kết luận về việc định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 09/11/2017 Hội đồng định giá tài sản thị xã H kết luận: Điện thoại di động OPPO A37 giá trị tại thời điểm bị xâm phạm: 2.632.000đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo Ph chiếm đoạt của chị Tr là: 6.567.750 đồng.

Lời khai của bị cáo Ph tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đối với hành vi cướp tài sản, Ph đã dùng dao, là phương tiện nguy hiểm, đe dọa chị Tr để chiếm đoạt tài sản nên đã phạm vào tình tiết định khung “sử dụng phương tiện nguy hiểm”. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Ph đã phạm vào các tội “Cướp tài sản ” theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự 1999(sửa đổi, bổ sung 2009) và tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 111 Bộ luật Hình sự 1999.

Xét nhân thân bị cáo là Ph là xấu, ngày 28/8/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế kết án 03 năm tù về tội cố ý gây thương tích. Chấp hành xong hình phạt tù, mới được xóa án lại tiếp tục phạm tội thể hiện bản chất không có ý thức tuân theo pháp luật.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Ph lợi dụng sự cả tin của những người mà Ph làm quen trên mạng, Ph tìm cách lừa dối để dẫn dụ họ đến khu vực cồn mồ là nơi vắng vẻ, không có người qua lại để uy hiếp cướp tài sản của họ rồi buộc họ phải quan hệ tình dục trái ý muốn của họ. Hành vi phạm tội của bị cáo Ph gây nguy hại rất lớn cho xã hội: ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhân phẩm, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, đe dọa đếntính mạng, sức khỏe của người khác và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự an ninh, xã hội trên địa bàn địa phương.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng:

- Bị cáo Ph đã phạm vào tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 đối với tội “Cướp tài sản”;

- Bị cáo Ph được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999.

Về vật chứng đang thu giữ:

- 01 chìa khoá xe mô tô dài 10cm; tay cầm bằng nhựa màu đen dài 3cm, có ghi chữ HONDA, phần lưỡi dài 7cm bằng kim loại trên có ghi ký hiệu P108;

- 01 phong bì dán kín có niêm phong gồm: phần còn lại mẫu dịch âm đạo mẫu tóc thu của Trần Thị Bích Nh; mẫu tóc của Phan Văn Ph; 01 áo sơ mi ngắn tay màu trắng có ghi chữ UNIQ-LO MADE IN CHINA; 01 quần lót màu hồng, có nhãn hiệu QICQIY-IZI; 01 băng vệ sinh đã qua sử dụng, bên ngoài vỏ bọc có chữ Kotex; toàn bộ mẫu máu, tế bào niêm mạc miệng thu của Trần Thị Bích Nh và Phan Văn Ph;

- 01 giấy biên nhận của Văn Ph và tiệm vàng D;

Các vật chứng nêu trên không có giá trị cần tịch thu và tiêu hủy

- Số tiền 2.200.000 đồng, trong đó có 1.900.000đ là tiền của chị Nhbị Ph chiếm đoạt và 300.000đ là số tiền còn lại mà Ph đã bán đôi bông tai vàng cho tiệm Duy Hùng (bán được 570.000đ). Vì vậy cần trả lại cho chị Nh1.900.000đ và trả lại cho bà Lê thị T 300.000đ (Đôi bông tai Nh đã được nhận lại rồi).

Về trách nhiệm dân sự:

- Chị Nh yêu cầu bị cáo Ph bồi thường số tiền 1.900.000 đồng. Chị Nh đã được nhận lại từ số tiền đang tạm giữ như đã phân tích ở trên nên Ph không phải bồi thường nữa.

- Bà Th yêu cầu bồi thường 1.570.000 đồng là số tiền đã bỏ ra mua 01 đôi bông tai vàng và nhận cầm cố 01 sợi dây chuyền vàng của Ph. Bà Th đã được nhận 300.000đ từ số tiền đang bị tạm giữ. Số tiền còn lại bị cáo Ph còn phải bồi thường là 1.270.000đ.

- Chị Tr yêu cầu Ph bồi thường số tiền 1.000.000 đồng và giá trị 01 chiếc nhẫn vàng là 353.000 đồng. Tổng cộng là 1.353.000 đồng. Số tiền này buộc Ph phải bồi thường.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo Ph phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Phan Văn Ph (tên gọi khác: Cu Mến) phạm các tội “Cướp tài sản” và “Hiếp dâm”;

- Áp dụng khoản 2 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009); Xử phạt bị cáo Phan Văn Ph 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 111; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009); Xử phạt: bị cáo Phan Văn Ph 03 (ba) năm tù về tội “Hiếp dâm”;

- Áp dụng Điều 50 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phan Văn Ph phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị tạm giữ 13/10/2017.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tuyên xử:

1. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 chìa khoá xe mô tô dài 10cm; tay cầm bằng nhựa màu đen dài 3cm, có ghi chữ HONDA, phần lưỡi dài 7cm bằng kim loại trên có ghi ký hiệu P108;

- 01 phong bì dán kín có niêm phong gồm: phần còn lại mẫu dịch âm đạo mẫu tóc thu của Trần Thị Bích Nh; mẫu tóc của Phan Văn Ph; 01 áo sơ mi ngắn tay màu trắng có ghi chữ UNIQ-LO MADE IN CHINA; 01 quần lót màu hồng, có nhãn hiệu QICQIY-IZI; 01 băng vệ sinh đã qua sử dụng, bên ngoài vỏ bọc có chữ Kotex; toàn bộ mẫu máu, tế bào niêm mạc miệng thu của Trần Thị Bích Nh và Phan Văn Ph;

- 01 giấy biên nhận của Văn Ph và tiệm vàng D;

Tất cả vật chứng nêu trên đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, Thừa Thiên Huế theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/03/2018.

2. Số tiền: 2.200.000đồng được trả lại cho: Chị Trần Thị Bích Nh 1.900.000đ và bà Lê Thị T 300.000đ. Số tiền này đã chuyển cho Chi cục Thi hành án thị xã H theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền lập ngày 13/3/2018.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự, tuyên xử: Buộc bị cáo Phan Văn Ph phải bồi thường cho:

1. Bà Lê Thị Th 1.270.000 đồng.

2. Chị Nguyễn Thị Huyền Tr 1.353.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

- Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn Ph phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ