- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn V (V Bô) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lâm Văn V (V Bô) phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Xử phạt: Lâm Văn V 01 (một) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NH DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 07/2018/HS-ST Ngày 06 - 02 - 2018 |
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền
Các Hội thẩm Nh dân:
+ Ông Trần Quốc V - Phó hiệu trưởng Trường THPT Thủ Khoa Nghĩa thành phố Châu Đốc;
+ Ông Lý Vĩnh Thành - Chủ tịch Hội Đông y thành phố Châu Đốc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát Nh dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án Nh dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2017/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Lâm Văn V (V Bô), sinh năm 1992 tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Nơi đăng ký Nh khẩu thường trú: Tổ 7, ấp K, xã A, huyện P, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Tổ 26, khómH, phường C, thành phố D, tỉnh An Giang; nghề nghiệp không; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Huỳnh H và bà Trần Thị D; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự :chưa; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2017, có mặt.
Người bị hại: Ông Nguyễn Bình Nh, sinh năm 1967; nơi cư trú: tổ 8A, khóm H, phường M, thành phố D, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Dương Bá Nh (Nh Kỳ L), sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: tổ 17, khóm 3, phường C, thành phố D, tỉnh An Giang. Hiện đanh chấp hành án phạt tù tại Trại giam Phước Hòa, địa chỉ: xã G, huyện P, tỉnh Tiền Giang, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Minh Th, sinh năm 1983, nơi cư trú: Tổ 17, khóm V, phườngC, thành phố D, tỉnh An Giang, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978, nơi cư trú: tổ 27, khóm H, phường C, thành phố D, tỉnh An Giang, vắng mặt;
- Ông Huỳnh Minh Kh, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ 09, khóm B, phường M, thành phố D, tỉnh An Giang, vắng mặt;
- Ông Võ Văn M, sinh năm 1952, nơi cư trú: ấp P, xã K, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Lâm Văn V bị Viện Kiểm sát Nh dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/10/2016, Lâm Văn V nhìn thấy Dương Bá Nh đi bộ từ khómH, phường C, thành phố D đến khu vực chợ Châu Đốc nên V đi theo Nh để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến công trình xây dựng Trường mầm non Hướng Dương thuộc khu vực tổ 01, khóm 5, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc (do ông Nguyễn Bình Nh làm chủ thi công). Tại đây, V và Nh leo qua hàng rào sắt, đột nhập vào bên trong công trình, V đứng cảnh giới, còn Nh đi vào bên trong lấy trộm 01 máy khoan tường, 01 máy cắt gạch và 02 máy hàn đem ra ngoài cho V. Sau đó, V và Nh cùng nhau thuê xe lôi (không rõ họ tên, địa chỉ) mang tài sản về hẻm nhà cháy thuộc khu vực tổ 26, khóm Châu Thạnh, phường Châu Phú A cất giấu. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, Nh đem máy cắt gạch và máy khoan bán cho một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 250.000 đồng, V bán 02 máy hàn còn lại cho ông Nguyễn Văn H với giá 1.250.000 đồng. Số tiền có được Nh và V mua ma túy sử dụng, còn lại chia nhau tiêu xài cá Nh hết. Sau khi phát hiện tài sản bị mất, ông Nguyễn Minh Th (quản lý công trình) đến Công an phường Châu Phú A trình báo sự việc. Căn cứ kết luận định giá tài sản số 02/KL-ĐG ngày 18/11/2016 và số 49/KL-ĐG ngày 14/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, xác định:
- 01 (một) máy hàn mini hiệu Hanabi đã qua sử dụng, giá trị còn lại 2.000.000 đồng;
- 01 (một) máy hàn hiệu Zasig đã qua sử dụng, giá trị còn lại 1.200.000 đồng;
- 01 (một) máy cắt gạch cầm tay hiệu Roaw đã qua sử dụng, giá trị còn lại 400.000 đồng;
- 01 (một) máy khoan cắt bê tông hiệu Boss đã qua sử dụng, giá trị còn lại 300.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là 3.900.000 đồng.
Ngày 24/01/2017, Lâm Văn V bị khởi tố điều tra, trong quá trình điều tra V đã bỏ trốn nên ngày 24/3/2017, Cơ quan điều tra Công an thành phố Châu Đốc ban hành Quyết định truy nã V và đến ngày 05/10/2017 thì V bị bắt giữ.
Tại bản Cáo trạng số 02/VKS-HS ngày 18 tháng 12 năm 2017, Viện kiểm sát Nh dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Lâm Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009
Tại phiên tòa, bị cáo V khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát Nh dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 hướng dẫn áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội, hành vi phạm tội nên đề nghị áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo.
Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng xung quanh. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đã được xử lý theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 29/2017/HS-ST ngày 12/6/2017 nên không đề cập giải quyết lại.
Căn cứ các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Mặc dù, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người bị hại ông Nguyễn Bình Nh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Dương Bá Nh, ông Nguyễn Minh Th, Nguyễn Văn H, Huỳnh Minh Kh, Võ Văn M vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này. [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Nh dân thành phố Châu Đốc, Điều tra viên; Viện kiểm sát Nh dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. [3] Về nội dung: Bị cáo V khai nhận, khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/10/2016, bị cáo cùng với Nh đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đến công trình xây dựng trường mầm non Hướng Dương, bị cáo và Nh leo rào vào bên trong, bị cáo đứng cảnh giới, còn Nh vào lấy trộm 01 máy khoan tường, 01 máy cắt gạch và 02 máy hàn chuyền ra đưa cho Nh. Sau đó, bị cáo cùng Nh kêu xe lôi chở tài sản về cất giấu tại hẻm nhà cháy. Đến khoảng 07 giờ 30 phút sáng cùng ngày, Nh mang bán máy cắt gạch và máy khoan bê tông cho người nào không rõ, được 250.000 đồng, bị cáo mang bán 02 máy hàn cho ông Hùng được 1.250.000 đồng, tổng cộng bán được 1.500.000 đồng, Nh trả tiền xe lôi 50.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo và Nh mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá Nh hết. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại ông Nguyễn Bình Nh và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Dương Bá Nh, ông Nguyễn Minh Th, Nguyễn Văn H, Huỳnh Minh Kh, Võ Văn M, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định, bị cáo đã cùng với Dương Bá Nh lợi dụng lúc công trình xây dựng trường mầm non Hướng Dương không người canh giữ nên đã lén lút đột nhập vào lấy trộm 01 máy khoan tường, 01 máy cắt gạch và 02 máy hàn, tổng giá trị tài sản là 3.900.000 đồng (theo kết luận định giá tài sản số 02/KL-ĐG ngày 18/11/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Châu Đốc). Cho nên, hành vi của bị cáo đã đáp ứng mặt khách quan của tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá Nh. Từ đó, có căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát Nh dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát Nh dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội hướng dẫn áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của Viện Kiểm sát về việc áp dụng quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo Lâm Văn V.
Tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người trưởng thành, đang trong độ tuổi lao động nhưng lại sa vào con đường nghiện ngập nên đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân, gây hoang mang trong Nh dân, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Ngoài ra, bị cáo là người có Nh thân xấu, đã bị Chủ tịch Ủy ban Nh dân phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc ban hành Quyết định giao cho Cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh quản lý về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian chờ làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bị cáo đã bỏ trốn và trong giai đoạn điều tra bị cáo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra ban hành Quyết định truy nã bị cáo, từ đó thể hiện ý thức bị cáo xem thường pháp luật nên cần thiết phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo ở tình tiết thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời, do bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với Dương Bá Nh cùng với bị cáo V chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Bình Nh đã bị kết án theo Bản án số 29/2017/HS-ST ngày 12/6/2017 nên không đề cập giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Do Bản án hình sự sơ thẩm 29/2017/HS-ST ngày 12/6/2017 của Tòa án Nh dân thành phố Châu Đốc đã giải quyết về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng nên không đề cập giải quyết lại.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lâm Văn V (V Bô) phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Xử phạt: Lâm Văn V 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt, tạm giam ngày 05/10/2017 (ngày năm, tháng mười, năm hai nghìn không trăm mười bảy). Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, 333, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lâm Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án Nh dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo đối với người bị hại ông Nguyễn Bình Nh và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Dương Bá Nh, ông Nguyễn Minh Th, Nguyễn Văn H, Huỳnh Minh Kh, Võ Văn M là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố (2); - Tòa án Nh dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Thi hành án DS thành phố (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) (đã ký) Lê Ngọc Tiền |