vanban.org

Bản án 07/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 16/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a,c khoản 2 và khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBT…

Tuyên bố bị cáo Lê Bình M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Lê Bình M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2017 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lê bình M "tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999…"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a,c khoản 2 và khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBT…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/HS-ST
Ngày 16 tháng 01 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Chi

Bà Nguyễn Thu Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 188/2017/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST- HS ngày 02/01/2018 đối với bị cáo:

Lê Bình M, sinh năm 1992; Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Xuân Đ, sinh năm 1960 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; có vợ: Trần Thị H, sinh năm 1985 (chưa đăng ký kết hôn) và con: Lê Trần P, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 12/9/2017, chuyển tạm giam ngày 14/9/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang - Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1977 ( vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Q, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1998 ( vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Q, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ ngày 12/9/2017 tại khu vực trước cửa số nhà S, đường L, phường D, Thành phố B, tổ công tác Công an Thành phố B bắt quả tang Lê Bình M, sinh năm 1992, trú tại: thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

- 01(một) hộp kim loại màu xanh cam có nắp đậy, mặt ngoài của hộp kim loại có chữ “DOUBLEMINT”, bên trong đựng 06 (sáu) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy Hêrôin), thu trong túi quần bên phải M đang mặc khi bị bắt.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS 98B2-285.75.

Tổ công tác tiến hành niêm phong tại chỗ vật chứng nghi ma tuý vào 01 (một) phong bì thư, lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Kết luận giám định số 1407/KL-PC54 ngày 14/09/2017 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Trong 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 06 (sáu) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, được dựng trong 01 (một) hộp kim loại màu xanh, cam có nắp đậy, bên trên có dòng chữ “DOUBLEMINT” đều là chất ma tuý Heroine, có tổng trọng lượng: 0,333 gam.”

Quá trình điều tra, Lê Bình M khai nhận như sau: Khoảng 10 giờ ngày 12/9/2017, M đi xe buýt từ nhà lên khu vực ga Kép thuộc thị trấn Kép, huyện L, tỉnh Bắc Giang mua ma tuý để sử dụng. Đến nơi, M đi đến một nhà ở gần ga Kép, thông qua một lỗ nhỏ trên cửa của nhà đó M mua được của một người thanh niên tên Hiếu được 06 (sáu) gói ma tuý Hêrôin với giá 600.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, M cho vào 01 hộp kim loại (vỏ hộp kẹo DOUBLEMINT) đem theo, rồi đút vào túi quần bên phải M đang mặc. Sau đó, M bắt xe buýt về thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, M gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Văn T, sinh năm 1998, trú tại: thôn Q, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang và rủ T xuống Bắc Giang có việc. T đồng ý đến đón M. Sau đó, M điều khiển xe mô tô chở T xuống Thành phố B, khi đi đến khu vực trước cửa số nhà 899, đường Lê Lợi, phường Dĩnh Kế, Thành phố B thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Người thanh niên bán ma tuý cho M do M chỉ biết tên là Hiếu, nhà ở gần khu vực ga Kép, thuộc thị trấn Kép, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố B đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được là ai nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Văn T là người đi cùng M nhưng T không biết M tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không phạm tội.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS 98B2-285.75, đăng ký mang tên chủ sở hữu là Nguyễn Văn C, sinh năm 1977, trú tại: thôn Q, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 12/9/2017, ông Cảnh cho con trai là Nguyễn Văn T mượn. Ngày 15/9/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông Cảnh.

Bản cáo trạng số 03/KSĐT ngày 07/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B truy tố bị cáo Lê Bình M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Bình M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

*Tuyên bố bị cáo Lê Bình M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lê Bình M từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

- Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a,c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu 01 (một) phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật ma túy Heroin hoàn lại sau giám định để tiêu huỷ.

- Trả lại cho bị cáo Lê Bình M 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng, nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiển sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ ngày 12/9/2017 tại khu vực trước cửa số nhà 899, đường Lê Lợi, phường Dĩnh Kế, Thành phố B, tổ công tác Công an Thành phố B bắt quả tang Lê Bình M, sinh năm 1992, trú tại: thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hành vi cất giấu ma túy trong người một cách bất hợp pháp của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B truy tố bị cáo về theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Ma tuý là chất gây nghiện làm băng hoại sức khoẻ của con người và là hiểm hoạ của đại dịch HIV và cũng chính từ ma tuý dẫn đến biết bao loại tội phạm khác phát sinh, Đảng và Nhà nước hàng năm đưa ra nhiều biện pháp quyết liệt nhằm loại trừ các tệ nạn ra khỏi đời sống xã hội, trong đó có tệ nạn ma tuý, vì vậy cần có một mức án nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để có tác dụng giáo giục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, vừa có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

. Đánh giá về nhân thân, thái độ và mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo không có.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, vì vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Do có sự thay đổi của pháp luật, tại thời điểm Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 theo khoản 1 Điều 194 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù là đúng pháp luật. Kể từ ngày 01/01/2018 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực pháp luật theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Do đó, cần xem xét áp dụng cho bị cáo theo hướng có lợi khi quyết định hình phạt.

. Người thanh niên bán ma tuý cho M do M chỉ biết tên là H, nhà ở gần khu vực ga K, thuộc thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố B đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được là ai, nên không có căn cứ xử lý.

. Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra xác minh bị cáo không có tài sản, không có kinh tế để thi hành tiền phạt, cho nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Vật chứng của vụ án là: 01 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong có chứa chất ma túy Heroine, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng của bị cáo không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a,c khoản 2 và khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Lê Bình M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Xử phạt bị cáo Lê Bình M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2017

- Vật chứng của vụ án: Tịch thu 01 (một) phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật ma túy Heroin hoàn lại sau giám định để tiêu huỷ.

Trả lại cho bị cáo Lê Bình M 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng, nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ